|
LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
(TS. Lê Mạnh Thát)
Tập
1:
Từ
khởi nguyên đến thời Lư Nam Đế)
Lời giới thiệu
Phàm Lệ
Mục Lục
Chương I:
PG thời Hùng Vuơng
Chương II: PG sau thời Hai Bà Trưng
Chương III: Khâu Đà La, Man Nương và Đức Phật Pháp Vân
Chương IV: Mâu Tử và Lư Hoặc Luận
Chương V: Khương Tăng Hội
Chương VI: Đạo Thanh, Khương Lương Tiếp và Pháp Hoa Tam Muội
Kinh
Chương VII: T́nh trạng PGVN thế kỷ thứ III và IV
Chương VIII: Sáu lá thư và sự khủnghoảng của nền PG thế kỷ thứ V
Chương IX:
Sơ thám về Huệ Lâm và Quân Thiện Luận
Chương X: Sáu lá thư và cái chết của Đàm Hoằng
Chương XI: Những ngọn đèn cuối cùng: Huệ Thắng và Đạo Thiên
Chương XII: Về Trí Bân và Giải Hàn Thực Tán Phương
Tập 2:
Tập 3:
ĐÓNG GÓP CỦA CAO TĂNG VIỆT NAM VỚI THẾ GIỚI
TS Khương Tăng Hội - Thế Kỷ II-III
Phật Triết Người Lâm Ấp - Thế Kỷ
VII (Vĩnh Sính)
TS Nhất Hạnh - Thế Kỷ XX-XXI
CÁC BÀI KHẢO CỨU NHỎ
Dân Gian và Bác Học (bài
khảo cứu của GS Trần Quốc Vượng):
dấu ấn Phật Giáo in đậm trong văn hoá dân tộc
như thế nào.
Từ
Buddha đến Bụt và Phật
(Huỳnh Ngọc Chiến)
|
|
Từ Buddha đến Bụt và Phật
Huỳnh Ngọc Chiến
Vấn đề nguồn gốc danh xưng Bụt hay Phật
đă được bàn căi rất nhiều suốt mấy năm qua, dù cả hai danh xưng đó đều
được chấp nhận là cách phiên âm của danh từ Buddha trong Phạn văn. Song
cũng như nhiều cuộc tranh luận khác, dường như khẳng định cuối cùng vẫn
c̣n để ngỏ. Trên tinh thần trao đổi và học hỏi, chúng tôi đóng góp bài
viết nhỏ này, dựa vào kết quả nghiên cứu của nhà Phật học Quư Tiển Lâm
của Trung Quốc
[1] để tŕnh bày mối liên quan giữa Buddha trong Phạn văn với Phật
(hay Bụt) trong Hán văn, mà chúng tôi cho là có tính thuyết phục và đáng
tin cậy hơn cả. Trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào vấn đề từ
nguyên và ngữ âm, mà chỉ tŕnh bày v́ sao danh từ Buddha với hai âm tiết
lại được phiên âm thành Phật hoặc Bụt chỉ với một âm tiết.
Về danh xưng Bụt và Phật, đại khái hiện nay có ba quan điểm:
a. Quan điểm thứ nhất: Phần đông cho rằng từ “Buddha” trong Phạn văn
được phiên âm sang Hán văn là “Phật Đà
佛陀”
hoặc “Bột Đà
勃
陀”;
và Phật là cách gọi tắt của Phật Đà, c̣n Bụt cách đọc trại chữ “Bột”
trong “Bột Đà”.
b. Quan điểm thứ hai: Bụt (chữ
Nôm viết là
孛)
là cách phiên âm trực tiếp âm tiết thứ nhất của từ Bhudha của người Việt
trong giai đoạn sơ kỳ, khi Phật giáo Ấn Độ truyền bá vào nước ta: Bud →
Bụt. Quan điểm này cho rằng cách đọc Bụt (là cách đọc b́nh dân của người
Việt) đă xuất hiện trước cách đọc Phật (là cách đọc bác học theo kinh
điển Trung Quốc), để khẳng định rằng vào buổi ban đầu, Phật giáo Việt
Nam được truyền trực tiếp từ phương Nam tức từ Ấn Độ sang, chứ không
phải được truyền từ phương Bắc là Trung Quốc. Cách đọc Phật là do ảnh
hưởng của Trung Quốc, và cách đọc này chỉ xuất hiện khi quân Minh sang
xâm lược nước ta, tức khoảng cuối thế kỷ 15.
c. Quan điểm thứ ba: Về từ nguyên th́ Bụt và Phật đều là cách đọc khác
nhau của cùng một chữ
佛
trong chữ Hán mà thôi. Chỉ khác là trước kia đọc là Bụt, sau này đọc là
Phật. Nói chung th́ Bụt và Phật tuy hai mà một.
Song có một điều đơn giản mà các nhà nghiên cứu chưa giải quyết được là:
v́ sao trong cả hai cách phiên âm Bụt hay Phật đều chỉ có một âm tiết,
trong khi từ Buddha trong tiếng Phạn lại có hai âm tiết? Do đó mới nảy
ra cách phỏng đoán Phật chỉ là cách đọc tắt của Phật Đà, và Bụt là cách
đọc tắt của Bột Đà hoặc là cách phiên âm trực tiếp âm tiết thứ nhất của
từ Bhudha.
Bụt là Phật, điều đó hiển nhiên không có ǵ để bàn căi. Trong truyện cổ
tích Việt Nam th́ Bụt là h́nh tượng dùng để chỉ vị tiên hiền lành nhân
hậu, chuyên ban phúc và cứu giúp cho người lương thiện, điển h́nh là
trong truyện “Tấm Cám”. Từ Bụt đă tồn tại rất lâu trong ca dao tục ngữ,
lẫn văn chương bác học.
Ví dụ:
Chưa dễ ai là Bụt Thích ca/ Mọi điều nhân
nghĩa nhẫn th́ qua (Nguyễn Bỉnh Khiêm);
Bụt cũng hiền từ sư cũng khá/ Chỉ hai con
chó chữa từ bi (Nguyễn Công Trứ);
Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo
giấy (Tục ngữ) v.v…
Tác giả Nguyễn Trọng Phu trong bài nghiên
cứu “Bụt hay Phật?”có trích dẫn theo quyển Lịch sử chữ Quốc ngữ” của Đỗ
Quang Chính (Tủ sách Đường Mới, Paris, 1985) một bản thảo của Bento
Thiện (sinh năm 1614) là một thầy giảng thuộc Ḍng Tên đạo Thiên Chúa,
sống gần thời với Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes 1593-1660) và đă học chữ
quốc ngữ đầu tiên với các linh mục Ḍng Tên Marini, Gaspar d'Amiral, Đắc
Lộ. Trong bản thảo đó cho thấy hai từ Bụt và Phật đều được dùng đồng
thời
[2] .
Theo các tự điển Phật học th́ từ Phật
佛
c̣n có các cách gọi khác như:
Bộ Đa
部多
Bộ Đà
部陀
Bột Đà
勃
陀/勃
馱/馞
陀
Bộ Tha
步
他
Hưu Đồ
休
屠
Một Đà
沒
馱/没陀
Phật Đà
佛陀/佛
馱
Phật Đồ
佛圖
Phí Đà
沸
馱
Phù Đà
浮
陀
Phù Đầu
浮
頭
Phù Đồ
浮
屠/浮
圖
Phục Đậu
復豆
Vật Tha
物
他
Vô Đà
毋陀
v.v….
Trên đây là một số
cách mà người Trung Quốc, qua nhiều giai đoạn, dùng để dịch âm danh từ
Buddha trong Phạn văn, dịch ư là “Giác giả”, nghĩa là “Đấng giác ngộ”,
dùng để chỉ đức Phật. Hai cách phiên âm phổ biến được sử dụng trong kinh
điển là “Phù Đồ”
浮屠
hay
浮圖,và
“Phật”
佛,
song cách phiên âm được kinh điển Trung Quốc sử dụng nhiều nhất vẫn là
Phật.Trong bài này, chúng ta tập trung vào cách phiên âm Phật.
Theo các vận thư và tài liệu cổ Trung Quốc th́ chữ Phật có nhiều cách
phiên thiết. Căn cứ vào Tập vận
集韻
và Chính vận
正韻
th́ chữ Phật có hai cách phiên thiết, và do đó có thể đọc theo hai cách
bằng âm Hán Việt:
|
1. Phù vật
thiết (符勿切)
|
=>
|
Ph(ù) +
(v)ật => Phật. |
|
2. Bồ một
thiết (蒲沒切)
|
=>
|
B(ồ) + (m)ột
=> Bột. |
Theo Thích Văn
釋
文
th́ Phật được đọc theo âm Bật
弼.
Đây có lẽ là cơ sở ngữ âm để các nhà nghiên cứu suy ra rằng Bụt (là cách
đọc trại của Bột) và Phật đều là cách đọc của một chữ Hán duy nhất, tại
hai giai đoạn khác nhau. Theo nhà Hoa ngữ học lỗi lạc Karlgren, trong
tác phẩm Grammata Serica, th́ chữ Phật có 3 cách đọc là [b’i̭wt/b’i̭ut/fu].
Trong các tự điển Trung Quốc hiện đại, chữ Phật được phát âm theo hai
cách là [Fó] và [Bó]. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng giữa cách phát
âm Bụt và Phật có mối liên quan mật thiết. C̣n v́ sao cách đọc Bụt hầu
như mất hẳn khỏi nền văn chương truyền khẩu lẫn văn chương bác học th́
mọi nghiên cứu để chứng minh cũng chỉ đều là sự suy diễn và phỏng đoán,
chứ chưa có một cơ sở khoa học hoặc chứng cứ lịch sử vững chắc nào để
khẳng định một cách thuyết phục, ngoài những luận cứ về ngữ âm.
Nếu cho rằng Bụt là cách đọc trại của Bột trong Bột Đà th́ phải chấp
nhận hai sự kiện. Thứ nhất: từ Bột Đà trong kinh điển Trung Quốc đă xuất
hiện trước từ Bụt trong tiếng Việt. Song hiện nay vẫn chưa thấy có văn
bản nào được trích dẫn làm sở cứ để chứng ḿnh điều đó cả. Thứ hai: để
Bột trong Bột Đà biến thành cách đọc Bụt trong dân gian th́ rơ ràng Bột
Đà phải là từ rất phổ biến. Song từ Bột Đà chủ yếu chỉ xuất hiện trong
các chân ngôn và thần chú trong kinh điển như kinh Lăng Nghiêm, kinh
Phật đỉnh tôn thắng đà la ni (bản dịch của sa môn Phật Đà Ba Lợi) v.v…
Mà trong kinh điển Phật giáo, tần số xuất hiện của thần chú, chân ngôn
so với kinh văn do Phật thuyết lại không cao, thêm vào đó là trúc trắc
rất khó đọc, khó nhớ. Tín đồ Phật giáo không c̣n lạ ǵ câu: “Đi lính sợ
trèo ải, làm săi sợ chú Lăng Nghiêm”, đủ thấy các chân ngôn, thần chú
đọc khó tiêu, khó nhớ như thế nào. Do đó, chúng tôi cho rằng Bột Đà khó
ḷng được sử dụng phổ biến trong dân gian để biến thành cách gọi tắt là
Bụt trong tiếng Việt được.
C̣n nếu chỉ căn cứ vào sự xuất hiện của từ Bụt trong những câu ca dao,
tục ngữ hoặc các câu chuyện cổ tích dân gian mà ta không thể xác định
được thời điểm ra đời, để khẳng định rằng Bụt là cách người Việt phiên
âm trực tiếp âm tiết thứ nhất của từ Bhuddha, và qua đó khẳng định rằng
Phật giáo được truyền đến Việt Nam trước khi qua Trung Quốc, th́ e rằng
rất khó thuyết phục.
Thông thường, khi một từ của ngôn ngữ nước ngoài được du nhập vào ngôn
ngữ bản địa, mà ta gọi là tá tự hay là từ vay mượn (loan-word), th́
người ta phải dùng cách đọc tương tự của ngôn ngữ bản địa để dịch âm,
gọi là âm dịch hoặc thể thanh, sao cho cách đọc đó bảo lưu được âm h́nh
ban đầu, dù từ phiên âm đó không có nghĩa trong ngôn ngữ bản địa. Ví dụ
người Việt dùng từ “xà-pḥng” hoặc “xà-bông” để gọi savon của người
Pháp, hoặc “xăng-uưch” để gọi bánh sandwich của người Mỹ. Chắc chắn phải
trải qua một thời gian dài và được sử dụng phổ biến, dần dần người ta
mới quên hẳn nguồn gốc từ vay mượn đó và xem nó như là ngôn ngữ bản địa.
Danh từ Buddha cũng vậy. Khi Phật giáo mới truyền bá đến Trung Quốc, các
thuật ngữ chuyên môn đều được những tín đồ phiên dịch kinh Phật giữ
nguyên âm điệu, bằng cách dùng những từ Trung Quốc có cách đọc tương
đồng để phiên âm cho chính xác. Theo các nhà nghiên cứu, chưa có trường
hợp từ hai âm tiết trong Phạn văn nào lại được phiên âm rút gọn thành
một âm tiết trong Hán văn. Hơn nữa, Buddha được xem là giá trị tối linh
th́ chắc chắn các tín đồ Phật giáo dịch kinh thời kỳ đầu không dám phiên
âm tắt được. Đó là điều hiển nhiên. Ví dụ tín đồ Thiên Chúa giáo không
dám gọi tắt đấng Giê-hô-va là đấng Giê-hô, cũng như tín đồ Hồi giáo
không dám gọi tắt đấng Ala là đấng A được hay nhà tiên tri Ma-hô-mét là
Ma-hô được.
Như vậy từ Buddha được phiên âm thành Phật hẳn phải bắt nguồn từ nguyên
nhân khác. Như đă nói trên, rất nhiều người cho rằng Phật là cách đọc
tắt của Phật Đà hoặc Bột Đà. Ngộ nhận này khá phổ biến, và đều bắt nguồn
từ Dị bộ tông luân luận thuật kư
異
部
宗
輪
論
述
記
mà ra. Cuốn này ghi rằng: “Phạn âm ‘Phật Đà’ là nói đấng giác ngộ. Từ
xưa đă gọi tắt là Phật” (佛陀梵音,此云覺者.
隨舊略語,但稱曰佛:
Phật Đà Phạn âm, thử vân giác giả. Tuỳ cựu lược ngữ, đản xưng viết
Phật).
Sư cô Chơn Không của thiền viện Làng Mai dẫn chứng lời nói của pháp sư
Khuy Cơ, trong phần chú thích cho “Lá thư Làng Mai 25”, như sau:
“Sư khuy Cơ, cao đệ của Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang, đời Đường, trong
sách Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương, quyển thứ sáu, có nói: ‘Bột Đà
(Buddha) là tiếng Phạn, gọi tắt một cách sai lầm là “Phật” (Phạn văn Bột
Đà, ngoa lược vân Phật)’”
[3] .
Điều này lâu nay đă trở thành hiển nhiên đến mức hầu như không c̣n ai
nghi ngờ ǵ nữa. Song trong các thư tịch c̣n lại từ thời Hậu Hán Tam
Quốc, th́ danh từ “Phật” đă xuất hiện trước danh từ Phật Đà rồi! Thư
tịch cho thấy không có trường hợp danh từ Phật Đà xuất hiện trước danh
từ Phật. Có thể Phật Đà chỉ là cách phiên âm bổ sung thêm vào từ Phật
trong giai đoạn về sau, chứ không phải Phật là cách đọc tắt của Phật Đà.
Nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc sống sau thời Hậu Hán, khi đối chiếu
nguyên bản Phạn văn với những danh từ được phiên âm trong bản dịch kinh
Phật đời trước, thấy không tương đồng, nên cho rằng đó là cách phiên âm
sai hoặc phiên âm tắt. Thật ra, trong buổi ban đầu, Phật giáo truyền đến
Trung Quốc không phải là Phật giáo Ấn Độ như chúng ta lâu nay lầm tưởng,
mà chính là Phật giáo vùng Trung Á, từ các nước như Đại Nhục Chi và các
nước nhỏ vùng Tân Cương ở Trung Á, thông qua con đường tơ lụa. Do đó,
khi được du nhập vào Trung Quốc trong buổi sơ kỳ, th́ phần lớn kinh Phật
không được dịch trực tiếp từ Phạn văn mà thông qua một ngôn ngữ trung
gian. Chỉ đến đời ngài Huyền Trang th́ công việc dịch thuật mới được xem
là tập đại thành. Chính v́ vậy, trong tác phẩm Đại Đường Tây Vực kư của
ḿnh, ngài Huyền Trang đă phê phán cách phiên âm nhiều thuật ngữ Phạn
văn trước đó là sai (Ngoa dă). Ví dụ ngài cho rằng phải phiên âm Yojana
là du thiện na thay v́ do tuần hay do diên, Vaiśya là Phệ Xá thay v́ Tỳ
Xá v.v…
[4] Thực ra, đó không có ǵ là sai cả. Điều này cũng tương tự như ta
phiên âm các danh từ Hy Lạp bằng tiếng Việt, qua trung gian tiếng Anh
hoặc tiếng Pháp.
Khi kinh Phật truyền vào Trung Quốc th́ danh từ Buddha trong Phạn văn
được phiên âm khác nhau là “Phù Đồ” hoặc “Phật”, chỉ v́ do con đường du
nhập vào Trung Quốc khác nhau, nghĩa là qua hai ngôn ngữ trung gian khác
nhau. Danh từ Buddha trong Phạn văn được phiên âm là “Phù Đồ” khi qua
nước Đại Hạ và But khi qua các nước nhỏ vùng Tân Cương, Trung Á. Nhà
Phật học Quư Tiển Lâm, với kiến thức uyên bác và những luận chứng thuyết
phục về ngữ học đă chứng minh cho thấy trong văn tự Hồi Hột, Buddha biến
thành trọc âm (âm đục) But. Và các tín đồ Phật giáo Trung Quốc buổi sơ
kỳ đă dùng chữ Phật để phiên âm lại danh từ But, v́ trọc âm xưa của Phật
“佛”
cũng là Bụt.
Trong kinh nhật tụng bằng văn tự Hồi Hột, ta thấy cách tụng Nam mô Phật/
Pháp/Tăng như sau:
|
Quy mệnh
Phật (Nam mô Phật) |
歸命佛(南無佛) |
=>
|
namo but
|
|
Quy mệnh
Pháp (Nam mô Pháp) |
歸命法(南無法) |
=>
|
namo drm
|
|
Quy mệnh
Tăng (Nam mô Tăng) |
歸命僧(南無僧) |
=>
|
namo sag
|
Cách phiên âm của từ Buddha trước khi vào Trung Quốc, đă thay đổi qua
ngôn ngữ trung gian như sau:
|
1. Ấn Độ
|
=> Đại Hạ
(Đại Nhục Chi) |
=> Trung
Quốc |
|
Buddha
|
=> bodo,
boddo, boudo |
=> Phù Đồ.
|
|
|
|
|
|
2. Ấn Độ
|
=> Các nước
nhỏ vùng Tân Cương, Trung Á |
=> Trung
Quốc |
|
Buddha
|
=> But
|
=> Phật/Bột.
|
Sau đây là bảng đối chiếu cách phiên âm từ Buddha trong một số văn bản:
|
Trong văn tự
|
Buddha biến
thành |
|
Đại Hạ
|
bodo,boddo,boudo
|
|
Các nước nhỏ
vùng Tân Cương, Trung Á |
but
|
|
Văn tự Ba Tư
cổ (Thánh điển của Bái hoả giáo) |
bwt
|
|
Văn tự Ma Ni
giáo của An Tức |
bwt/but
|
|
Văn tự Ma Ni
giáo của Mễ Đặc |
bwty,pwtyy
|
|
Kinh điển
Phật giáo Mễ Đặc |
pwt
|
Như vậy, chính v́ do cách phiên âm qua trung gian của ngôn ngữ vùng
Trung Á
[5] , trong khoảng trung thế kỷ, mà người Trung Quốc đă dùng từ Phật
để phiên âm từ Buddha của tiếng Phạn, chứ hoàn toàn không phải là cách
phiên âm trực tiếp. Điều này cho thấy chữ Phật có thể được đọc là Bụt
trong thời cổ. Đây là những luận cứ khoa học về ngữ âm mà chúng tôi thấy
là đáng tin cậy hơn cả.
Do đó, chúng ta có thể tạm kết luận: Phật hay Bụt đều là hai cách đọc
khác nhau của một từ duy nhất. Và từ này không phải được phiên âm trực
tiếp từ danh từ Buddha trong Phạn văn, mà thông qua ngôn ngữ trung gian
của vùng Trung Á.
Chúng tôi hy vọng rằng bài viết ngắn này giải thích được phần nào nguồn
gốc của hai từ Bụt và Phật. Song theo thiển ư, đă là Phật tử th́ chúng
ta cũng không cần phải quan tâm quá đáng với sự phân biệt giữa Bụt và
Phật như các nhà nghiên cứu, mà hăy tự hỏi từ Bụt có đem lại an lạc tâm
linh hơn từ Phật hay không, và ngược lại? Đạo Phật chủ trương “Bất hoại
giả danh nhi thuyết thực tướng”. Trong kinh Lăng Già, đức Phật luôn nhắc
nhở môn đồ rằng tất cả ngôn thuyết đều do nhân duyên hoà hợp mà thành,
cho nên ngôn thuyết không thể nói về đệ nhất nghĩa đế, huống chi là hai
từ Bụt và Phật?
© 2008 talawas
[1]Quư
Tiển Lâm, Phật giáo học thuật luận văn tập, Nxb Đông sơ xuất bản xă, Đài
Bắc, 1996, tr. 1 - 18.
[2]Xem “Bụt hay Phật?”, Nguyễn Trọng Phu,
http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-buthayphat-01.htm
[3]Xem “Danh từ Bụt - Trích Lá thư Làng Mai ngày 12-2-2002”, Sư Cô
Chơn Không,
http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-buthayphat-02.htm
[4]Xem thêm Bút kư Đường Tăng, dịch giả TS Lê Sơn, Nxb Phương Đông,
2007, các tr. 75, 128, 153, 157…
[5]Mễ Đặc tức Sugda thời trung thế kỷ, c̣n gọi là Tốt Lợi (sūlīk),
người BaTư cổ đại gọi là Suguda. Đại Hạ là quốc gia ở vùng tây bắc Trung
Quốc thời cổ, người Hy Lạp cổ đại gọi là Bactria. An Tức là Arsacid hay
Parthia thời cổ.
Nguồn:
http://www.phamthihoai.org/talawas/talaDB/showFile.php?res=13827&rb=06
|