- Lịch sử Phật giáo Việt
Nam
- Từ khởi nguyên đến thời
Lư Nam Đế
- Tiến sĩ Lê Mạnh Thát
- Chương IX
- Sơ Thám về Huệ Lâm và Quán Thiện Luận
Qua nghiên cứu về Sáu lá thư xưa
nhất cuả lịch sử văn học và Phật giáo nước ta ở trên, chúng tôi đă
có dịp giới thiệu và phân tích sơ về một nhà sư Trung Quốc bị đuổi
ra nước ta vào giữa thế kỷ thứ V tên Huệ Lâm và tác phẩm Quân thiện
luận của ông. Con người cũng như tác phẩm của nhà sư này qua thế kỷ
đă gây ra nhiều bàn căi khá lôi cuốn. Không những thế, chính trong những
phát biểu ở Quân thiện luận đă tạo cơ hội cho sự ra đời của sáu
lá thư vừa nói, nhằm trả lời và bác bỏ những kết luận mà Quân thiện
luận đề lên. Ngoài ra, Lâm có thể đóng góp không ít vào sự thành công
của cuộc khởi nghĩa Lư Trường Nhân. Do vậy, con người và tác phẩm Huệ
Lâm càng lôi cuốn hơn nữa đối với công tác nghiên cứu văn học Phật
giáo và chính trị Việt Nam. Chúng tôi v́ thế đề nghị t́m hiểu ở đây
cuộc đời của Huệ Lâm và dịch lại bản Quân thiện luận vừa kể nhằm
cung hiến một phần nào tư liệu cho những tra khảo sau.
Về cuộc đời Huệ Lâm [^]
Cuộc đời của Huệ Lâm, cứ Cao Tăng
truyện quyển 7 ĐTK 2059 tờ 368 a11-21, th́ như thế nay: "Đệ tử cuả
Đạo Uyên là Huệ Lâm vốn họ Lưu, người Tần quận, giỏi hết các kinh
điển và Trang Lăo, hay đùa giỡn, ưa nói cười, sở trường về việc viết
lách nên có Huệ Lâm tập 10 quyển, nhưng tính kiêu ngạo, lại hay tự khoe
khoang. Uyên thường đến thăm Phó Lượng, Lâm tới chỗ trước, bèn ngồi.
Đến khi Uyên tới, Lâm không trí lễ. Uyên giận, nóng cả mặt, Lượng bèn
phạt Lâm 20 trượng. Tống Thế Tổ kính trọng Lâm, cho dẫn tới thăm th́
Lâm thường lên ngồi trên cái giường một. Nhan Diên Chi, mỗi khi có dịp,
đều chê trách. Vua liền không vui. Sau đó, Lâm viết Bạch hắc luận,
trái với lư nghĩa Phật giáo. Thái thú Hoạnh Dương Hà Thừa Thiên cùng
Lâm đọ giáp, giúp nhau kích dương, làm ra Đạt tín luận, cũng câu nệ một
bên, mà chê trách Thích giáo. Nhan Diên Chi và Tôn Bính Kiểm bác hai cuốn
luận ấy, mỗi người hơn một vạn lời. Lâm, khi huỷ phá áo pháp cuả
ḿnh, bị đuổi ra Giao Châu, đời nói: "Uyên công thấy ma tinh tức là
con người này vậy".
Đọc qua tiểu truyện này của
Lâm, một kiểm soát tư liệu ngoại tại chứng thực cho ta những chi tiết
sau. Thứ nhất, về truyện "Lâm lên ngồi trên cái giường một" và
sự "chê trách" của Nhan Diên Chi, chúng ta có thể t́m thấy trong
tiểu sử cuả Nhan Diên Chi ở Tống thư quyển 73 tờ 7a4-6: "Lúc bấy
giờ Sa môn Thích Huệ Lâm v́ có tài ba và học thức nên được Thái Tổ
quí trọng thương yêu. Mỗi khi cho gọi vào thăm, Lâm thường lên ngồi
trên giường một. Diên Chi rất ghét, nhân đang say, bạch với vua rằng:
"Xưa Đồng Tử tham cùng cỡi xe, Viên Ty nghiêm sắc mặt. Đấy là chỗ
ngồi cuả bậc tam thai, há lại có thể khiến kẻ h́nh dư cùng ở? Vua đổi
sắc luận.
Tống thư do Tề Vũ đề vào mùa
xuân năm Vĩnh Minh thứ 5 (487) ra lệnh cho Trầm Ước viết và viết xong
vào tháng 2 năm Vĩnh minh thứ 6 (488) Huệ Hạo viết Cao Tăng truyện khoảng
năm 530 và chắc chắn là sau năm 519, do thế hẳn phải lấy chi tiết vừa
nói ở Tống thư. Kiểm soát này giúp ta đính chánh một sai lầm khá to lớon,
mà h́nh như tất cả những bản khắc từ thời Triệu Tống trở đi của
Cao Tăng truyện đều phạm phải, đấy là Tống Thái Tổ của nhà Lưu Tống
yêu thương và quí trọng Lâm, chứ không phải là Tống Thế Tổ, như chúng
đă có. Tống Thái Tổ tức Tống Văn đế, trị v́ giữa những năm
424-453; c̣n Tống Thế Tổ tức Tống Hiếu Vũ đế, trị v́ những năm
454-464.
Chi tiết thứ hai liên quan tới chuyện
Lâm viết Bạch hắc luận và đọ giáp với Hà Thừa Thiên. Văn cú cuả
hai chi tiết, Hạo chắc phải rút từ bài văn "trả lời Tống Văn đế
về việc tán dươong Phật giáo" của Hà Thượng Chi trong Hoằng minh tập
quyển 11 ĐTK 2102 tờ 69a13-b4; "Lúc bấy giờ có Sa-môn Huệ Lâm, giả mặc
áo thầy tu, mà hủy báng giáo pháp của ḿnh, viết ra cuốn Bạch hắc luận.
Thái thú Hoạnh Dương Hà Thừa Thiên cùng Lâm đọ giáo, giúp nhau kích dương,
viết Đạt tính luận, cũng câu trệ về một phía, mắng chê Thích giáo.
Thái thú Vĩnh gia Nhan Diên Chi và thái tử trung xá nhân Tôn Bính đều là
những ngựi tín đạo, kiểm bác hai cuốn luận ấy mỗi người hơn một
vạn lời. Lâm và Thiên ban đầu cũng có thư từ lui tới, nhưng cuối cùng
bị bẻ lư, họ bèn thôi. Bính nhân đó viết quyển Kinh Phật luận, để
mở rộng tôn chi cuả ḿnh. Vua khen hay".
Hà Thương Chi, cứ tiểu sử của
ông trong Tống thư quyển 66 tờ 3a2-6b, sinh năm 382 và mất lúc 79 tuổi vào
năm 460.
Về những chi tiết khác, chúng ta
không có những tư liệu ngoại tại, mà văn cú đă được Huệ Hạo dẫn
nguyên văn như hai chi tiết vừa thấy. Tuy thế, đối với một số nhân vật
và chi tiết như Đạo Uyên, liên lạc của Uyên với Phó Lượng, tài ba của
Huệ Lâm và việc Lâm bị đuổi ra nước ta đều có thể kiểm chứng. Thứ
nhất, về Đạo Uyên, thầy Huệ Lâm, Hạo đă ghi lại thế này trong Cao Tăng
truyện quyển 7 tờ 368a2-11: "Thích Đạo Uyên, họ Quan, không biết người
xứ nào, xuất gia dừng lại chùa Đồng An ở kinh sư, nhỏ giữ giới luật,
lớn học nghĩa tôn, các kinh những luật không ǵ là không thông đạt,
nhưng tiềm quang ẩn đức, đời chẳng ai biết. Sau ở chùa Đồng An mở hội
giảng, Uyên phẩu chiết mọi nguyên vy, làm srơ hết những chỗ sâu sắc,
khiến cho tất cả những tích trệ xưa này đều bỗng nhiên bừng sáng băng
giải. Từ đấy, học đồ đổi nh́n, ùa theo lập đức. Sau Uyên dời tới
ở chùa Bành Thành. Tống Văn đế cho Uyên lấy đức hạnh làm vật quí, sắc
đến ở chùa. Sau khi tới nhậm, Uyêm mất ở chỗ ḿnh ở, xuân thu 78 tuổi".
Bản tiểu sử này cuả Uyên không
những thiếu chính xác và thiếu đầy đủ, mà c̣n quá ngắn, khi so với bản
tiểu sử phụ tuỳ của người đệ tử ông là Huệ Lâm. Thiếu chính
xác, bởi v́ nói không nói rơ chẳng hạn ngôi chùa mà Tống Văn đế sắc
Uyên tới ở chùa nào. Thiếu đầy đủ, bởi cứ trong những tiểu sử khác,
ta biết Uyên đă đến thụ giáo với Cưu Ma La Thập ở Trường An và tham
dự vào những công tác dịch thuật vĩ đại của người này. Bản tiểu sử
của Trúc Đạo Sanh trong cùng quyển đă ghi lại lời b́nh sau "Người
đương thời b́nh luận rằng:
- Sanh, Duệ phát thiên chân
- Nghiêm, Quan oa lưu đắc
- Huệ Nghĩa bành hành tấn
- Quan Uyên vu mặc tắc.
Quan Uyên tức Đạo Uyên họ Quan vừa
nói. Ông như vậy được xếp ngang hàng với danh sĩ Phật giáo đương thời,
đây là Trúc Đạo Sanh, Huệ Duệ, Huệ Nghiêm, Huệ Quan và Huệ Nghĩa; và
những người nà đều là môn đồ của La Thập, sống tại miền Nam. Sanh
mất năm 435, Nghiêm năm 444, Nghĩa năm 445, c̣n Duệ và Quan th́ chỉ biết mất
trong khoảng Nguyên gia, tức những năm 424-453. Uyên cũng mất trong khoảng
Nguyên gia. Niên đại ông do thế rơi vào khoảng 370-440.
Về chi tiết liên lạc giữa Huệ
Lâm, Đạo Uyên và Phó Lượng, cứ tiểu sử của Lượng trong Tống thư
quyển 43 tờ 10a6-17b6 và Nam sử quyển 15 tờ 11a3-12a5 th́ không thấy nói.
Lượng dĩ nhiên là vị công thần khai quốc của nhà Lưu Tống. V́ vụ phế
thí Thiếu đế và lập ngôi Văn đế, mà Lượng sau đó đă bị Văn đế
giết lúc mới 53 tuổi cùng với Từ Thiện Chi vào năm 426. Uyên và Lâm, nếu
có đến thăm Lượng, th́ chắc chắn phải trước năm ấy. Hơn thế nữa,
chính vào năm 426, Văn đế cho gọi Huệ Lâm vào cung để bàn bạc triều
chính. Cứ Tư trị thông giám quyển 120 tờ 11a13-b7, Nguyên gia năm thứ 3
(426) tháng 3 ngày tân tỵ, vưa trở về Kiến Khương, trưng Tạ Linh Vận làm
bí thư giám, Nhan Diên Chi làm trung thứ thị lang, thưởng đăi rất hậu.
Vua cho nhà sư Huệ Lâm giỏi bàn luận, nhân thế cùng bàn nghị triều đ́nh
đại sự, từ đó tham dự vào quyền yếu, khách khứa lui tới đông đúc,
xe cộ trước cửa thường có vài chục cặp, bốn phương nối nhau dân gởi
đồ biếu, chiếu vuông bảy tám bức luôn luôn đầy người. Lâm thường
đi guốc cao, mặc áo lông chồn, đặt chức thông t́nh và thơ tá, Khổng
Khải từ Hội Khế thường đến thăm, gặp khách khứa đầy nhà chào hỏi
nhau mà thôi. Khải khái nhiên hỏi: "Bèn lại có tể tướng áo nâu,
có thể nói là quan lư mất chỗ vậy".
Về việc cho gọi Lâm cùng Tạ Linh
Vân và Nhan Diên Chi vào làm việc này, Hồ Tam Tỉnh đă chú thích là,
"khi Lô Lăng vương bị phế th́ người đấy bị đuổi đi, khi Từ Tiện
Chi và Phó Lượng bị tru th́ ba người này được tiến, có thể nói là
kiểu uổng quá chính vậy". Việc tham dự vào triều chính cuả Lâm,
chúng ta sẽ có dịp bàn rộng hơn ở dưới. Ở đây, ta biết, nếu Lâm
vào năm 426 đă tham dự vào "triều chính đại sự", th́ chắc hẳn
Lượng không thể phạt Lâm hai mươi trượng vài năm trước đấy. Chuyện
Lượng phạt Lâm do thế hẳn phải xảy ra khoảng trước năm 420, khi Lưu Dụ
lên ngôi hoàng đế lập ra nhà Lưu Tống và Lượng đạt tột đỉnh quyền
hành của ḿnh, nếu không là trước đó năm, mười hay mười lăm năm.
Chi tiết về tài ba của Lâm có thể
kiểm soát qua nhiều tư liệu khác nhau. Thứ nhất, như những dẫn chứng
trên từ Nhan Diện Chi cho tới Tư Mă Quang cho thấy, ai cũng nhận Lâm
"v́ có tài ba học thức"_1 nên được Văn đế kính trọng và hỏi
bàn việc nước. Tiếp đến, cả Tống thư quyền 97 tờ 6b9-8b13 lẫn Nam sử
quyển 78 tờ 10a12-b8 đều có tiểu sử của Lâm, một vinh dự ít thấy cho
những nhà sư khác.
V́ bản tiểu sử trong Nam sử đầy
đủ chi tiết và gọn ghẽ hơn là bản tiểu sử của Tống thư, dẫu chúng
hoàn toàn đồng nhất với nhau, chúng tôi xin dịch nói ra đây: "Huệ
Lâm người Tần huyện, Tần quận, nhỏ xuất gia ở chùa Trị Thành, có
tài văn chương, học kiêm nội ngoại, là chỗ bạn bè của Lô Lăng vương
Nghĩa Chân. Ông thường viết Quân thiện luận, rất chê bai Phật pháp,
nói rằng: "Có một bạch học tiên sinh cho thánh nhân Trung Quốc kinh
luân bách thế, đức họ đă rộng, trí họ lại bao trùm mọi hiện tượng,
nguyên lư của trời người họ đều rơ hết, đạo họ không có chỗ che
dấu, giáo pháp họ không có chỗ thiếu sót hở hang, họ thông tuấn dới
triết, th́ cần ǵ phải nhờ đến những học thuyết khác. Có một hắc
đạo sỹ khinh chê những vị đó, họ cho là không rơ con đường ư minh,
chẳng đề cập đến sự biến hóa của đời sau, tuy có thể hư tâm, nhưng
chưa chắc có thể hư sự, nên không thể bằng được sự thâm thúy cuả
học thuyết Tây Vức. Rồi đặt hai người này làm chủ khách, đối đáp
nhau, mà kết luận là "Lục độ với ngũ giáo cùng được thực hành,
tín thuận với từ bi đều được thiết lập". Cuốn luận ấy ban hành
ra ở đời, cựu tăng cho nó là biếm truất họ Thíh, muốn gia tẫn đuổi.
Văn đế thấy nói khen thưởng. Trong khoảng Nguyên gia; Lâm tham dự vào quyền
yếu, triều đ́nh đại sự đều cùng bàn căi. Khách khứa lui tới đông
đúc, xe cộ trước cửa thường vài chục cặp, bốn phương nối đuôi
nhau gởi đồ dâng biếu, thế khuynh một thời, chiếu vuông bảy tám chiếc,
trên đó luôn luôn đầy người. Lâm mang guốc cao, mặc áo lông chồn, đặt
chức thông tŕnh và thơ tá, quyền hành sách với bậc tể tướng. Khổng
Khải từ Hội khể thường đến thăm Lâm, gặp khách khứa chỉ ồn ào hỏi
thăm mà thôi. Khải bùi ngùi nói: "Lại có tể tướng áo nâu sao? Có
thể nói quan chức không đúng chỗ vậy". Lâm chú thích Hiếu kinh à
thiên Tiêu diêu của Trang Tử; văn luận của ông c̣n truyền ở đời".
Đấy là cuộc đời Lâm theo Nam sử,
Tống thư cũng chép chừng ấy truyện, nhưng nó chấm dứt sau câu "thế
khuynh một thời" để tiếp kể tác phẩm của Lâm. Chỉ khác một chỗ
là, trong khi Nam sử tóm tắt Quân thiện luận, th́ Tống thư cho chép lại
hoàn toàn, từ đó sẽ là nguồn tư liệu Quân thiện luận cuả ta sau này.
Cứ tiểu sử ấy, th́ Lâm là bạn
bè cuả Lô lăng vương Nghĩa Chân. Chân là con thứ hai của Vũ đế. Khi Vũ
đế băng hà, người anh lên ngôi tức Thiếu đế, nhưng v́ hung bạo hoang
tàn, nên bị phế vào năm 423. Chân đáng lư kế ngôi, song bị Từ Tiện
Chi ghét, do thế bị giết vào cùng năm. Tiện Chi cùng Phó Lượng rước
người con thứ ba của Vũ đế tức Nghĩa Long về nối vị, lấy hiệu là
Văn đế, cải nguyên là Nguyên gia bắt đầu năm 424. Chân bị giết lúc mới
18 tuổi. Liên lạc với Chân với Huệ Lâm được Tống thư quyển 61 tờ
2a13-b6 và Nam sử quyển 13 tờ 7b5-11 viết thế này: "Nghĩa Chân thông
minh, ái mộ văn học, nhưng khinh cử không có đức nghiệp. Chân cùng với
Tạ Linh Vận từ Trần quận Nhan Diên Chi từ Lang Nha và sư Huệ Lâm đi
chơi khắp chốn một cách khác thường, nói rằng: "Tới ngày đắc chí
th́ ta sẽ lấy Linh Vận hay Diên Chi làm tể tướng, Huệ Lâm làm đô đốc
Tây Dự Châu".Từ Tiện Chi và những người khác rất ghét sự khinh nhờn
quá sức của Nghĩa Chân và Linh Vận, Diên Chi, nên sai Phạm Yến nhẹ răn
Nghĩa Chân rằng; "Linh Vận rộng thưa, Diên Chi bạc bẽo hẹp ḥi. Văn
đế nhà Ngụy nói: "Văn nhâ là những kẻ ít khi có thể dùng danh tiết
của ḿnh mà tự lập". Nhưng tánh t́nh của Chân v́ đă quen thói, chưa
thể quên lời, khi gặp tặng thưởng,nên vẫn tiếp tục giao du, đem đến
cùng thuyền của Nghĩa Chân đơn sơ không bằng thuyền của mẹ Chân là
Tôn Tử Nghi. Nghĩa Chân cùng Linh Vận, Diên Chi, Huệ Lâm cùng ngồi xem ngũ
bộ, nhân thế thiết yến ở trong thuyền, bèn sai tả hữu cắt thuyền cua
ḿnh ra khỏi thuyền bà mẹ, đem thuyền ấy tới tŕnh để xin lấy cái đẹp
nhất..." V́ Chân chết lúc mới 18 tuổi, liên lạc giữa Chân và lâm cũng
như Tạ Linh Vận và Nhan Diên Chi chắc hẳn không bắt đầu thực sự khoảng
ba bốn năm trước đấy, tức khoảng năm 420 trở đi. Lâm có liên lạc ấy,
bởi v́ tài đức của ḿnh.
Tài ba và học thức ấy, bản tiểu
sử cuả Tạ Linh Vận ở Tống thư quyển 67 không nói đến, nhưng bản tiểu
sử của Nhan Diên Chi đă vạch ra, như thấy trên. Không những thế, nó đă
sáng chói, để một nhà sử gia nổi tiếng kiểu Phạm Việp b́nh luận. Việp
viết Hậu Hán thư quen thuộc ngày nay. Tiểu sử ông ở Tống thư quyển 69
tờ 9a4-10 báo cáo một chi tiết lôi cuốn sau: "Việp tính tinh vi, có
nghĩ suy, đụng việc th́ phần nhiều rất giỏi. Áo quần y phục của Việp
không ǵ là không do Việp đo cắt, người đời đều lấy phép tắc. Việp
soạn Ḥa hương phương cái tựa nói rằng: "Xạ vốn kỵ nhiều, dùng
quá phân là giết. Trầm thật dễ ḥa, nhiều cân không hại. Linh hoắc hễ
khô là hư. Chiêm đường hễ ướt là dắn. Cam tùng, tô hiệp, an tức, uất
kim và nại đa ḥa la đều là những thứ quí giá ở nước ngoài, nhưng vô
dụng ở đất Trung Quốc. C̣n táo cao hễ kín th́ đóng cục, giáp tiễn hễ
cạn th́ hôi, chúng không những không giúp ích ǵ cho sự thơm tho, mà c̣n
làm cho bệnh càng nặng thêm nữa". Cái, mà cái tựa đầu muốn nói,
là muốn đem những gương ấy sánh với Dữu Bính Chi. Linh hoắc hễ khô
là hư, tức sánh với Trần Diễn Chi. Chiêm đường hễ ước là dắn, tức
sánh với Trần Diễn Chi. Táo cao hễ kín th́ đóng cục, tức sánh với Dương
Huyền Đảo, Giáp tiễn hễ cạn th́ hôi, tức sánh với Từ Trạm Chi, Cam
tùng, tô hiệp, tức sánh với Huệ Lâm đạo nhân. Và trầm thật dễ ḥa,
tức sánh ḿnh vậy", Việp như vậy, mặc dù coi Huệ Lâm "bất
thú ư trung thổ", khi so sánh với cam tùng và tô hiệp, đă coi Lâm là
"những thứ quí giá ở nước ngoài".
Về những liên lạc giữa Lâm và Tạ
Linh Vận, tiểu sử của Vận trong Tống thư quyển 67 lẫn Nam sử không
nói ǵ đến. Nhưng một sưu tập của Đạo Tuyên trong Quảng hoằng minh tập
đă giữ lại một số văn kiện trao đổi giữa hai người này. Như đă thấy
trên, Vận là bè bạn của Nghĩa Chân. Tống thư quyển 67 tờ 6b8-10 viết:
"Lô lăng vương Nghĩa Chân nhỏ thích văn học, cùng Linh Vận t́nh khoản
khác thường. Tới khi Thiếu đế tức vị, quyền hành đều tại tay những
đại thần. Linh Vận gây xúi dị đồng, phê b́nh huỷ báng những kẻ chấp
chính Tư đồ Từ Tiên Chi và những người khác do thế không thích, bèn đổi
Vận ra làm thái thú quận Vĩnh gia". Thế cũng có nghĩa, Vận ra Vĩnh
gia vào năm 423. Trong khi làm thái thú quận này, ngoài việc du hí, Vận c̣n
viết một tiểu luận nhan đề Biện tôn luận, mà Quảng hoằng minh tập
quyển 18 ĐTK 2103 tờ 224c25-225a9, đă ghi lại cùng với vấn nạn của những
người khác, trong đó có trả lời vấn nạn của Huệ Lâm ở tờ
226b6-227a25.
Biện tôn luận viết: "Cùng đi
chơi với các đạo nhân đều là những vị chuyên tu đạo tâm thần,
chuyên t́m hiểu ngoài lời nói. Tôi đau gối giựng, việc ít, lại có nhiều
ngày rảnh, nhân thế xin tŕnh bày ư kiến của ḿnh về do lai của đạo
nhằm xác định sự t́m hiểu tôn chỉ.
Họ Thích bàn luận Thánh đạo tuy
cao xa, nhưng phải học nhiều mới hay đến, ràng buộc hết th́ sự rơ
ràng mới sinh, mới có thể đáp lại sự tiện ngộ. Họ Khổng bàn luận
Thánh đạo đă hay, tuy Nhan Hồi chờ nhiều, hể đạo không rơ khắp, nhưng
lư về một cực. Có một đạo sỹ đưa ra học thuyết mới, cho rằng sự
lặng soi vi diệu không dừng từng bậc, học nhiều không hạn, sao phải tự
dứt. Nên nay bỏ quan niệm tiệm ngộ của họ Thích mà dùng lấy quan niệm
có thể đến, bỏ quan niệm chờ nhiều của họ Khổng mà giữ lại quan
niệm một cực. Quan niệm một cực khác với quan niệm tiệm ngộ. Quan niệm
một cực khác với quan niệm tiệm ngộ. Quan niệm có thể đến chẳng qua
là quan niệm chờ nhiều. Cho nên, lư do cho việc bỏ đi tuy giống nhau, cho
việc giữ lại th́ Khổng Thích hai đường xa khác.
Tôi cho rằng hai bàn luận trên là
những lời cứu vật, xướng lên học thuyết đắc ư cuả các nhà tu
hành. Tôi dám lây chúng chiết trung, tự trộm gọi là học thuyết mới vậy,
nhằm đáp lại những ư kiến thấp thỏi, đợi chờ có sự hiểu biết
thêm về sau".
Giữa những ư kiến mà Vận
"xin đáp lại dưới đây, đợi chờ có thêm sự hiểu biết", có
cả chúng vấn nạn của Huệ Lâm và Pháp Vương, người Huệ Lâm sẽ viết
truy điệu hơn mười năm sau. Trong đầu mở đầu cho trả lời vấn nạn
hai nhà sư này, Vận đă viết: "Vừa xem xong hai vấn nạn, mừng vui như
được thấy mặt, văn đẹp ư rộng, phất phới đầy mắt, có thể nói
chúng là đến từ miệng của thắng nhân" - phi lăm song nạn, hân như
tạm đối, tháo phong luận bác, uư nhiên măn mục, khả vị thắng nhân chi
khấu. Chỉ cần đọc một câu mở đầu này, ta cũng có thể thấy, Vận
và Lâm đă có những t́nh khoản ǵ với nhau.
Qua những liên lạc mật thiết này
với những danh sỹ thời ông, tài ba và học thức của Lâm tất không phải
tầm thường ǵ. Ngoài Quân thiện luận mà ta sẽ cho bàn riêng dưới đây,
cứ theo đoạn văn dẫn trên từ Nam sử và Tống thư cùng Cao Tăng truyện,
Lâm đă chú thích Hiếu kinh, thiên Tiêu diêu của Trang tử và có Huệ Lâm
tập mười quyển. Một kiểm soát kinh tịch chí của Tuỳ thư quyển 32, 34
và 35 cho thấy, những tác phẩm sau hiện c̣n tới giữa thế kỷ thứ 7: 1)
Hiếu kinh 1 quyển, Thích Huệ Lâm chú. 2) Lăo tử đạo đức kinh 2 quyển,
Thích Huệ Lâm chú và 3) Tống Sa-môn Thích Huệ Lâm tập 5 quyển, thư mục
đời Lương có tới 9 quyển và 1 quyển lục. Thêm vào đó, ta phải kể 2
bài truy điệu do Lâm viết cho Trúc Đạo Sanh và Thích Pháp Cương, cùng với
những trao đổi thư từ với Tạ Linh Vận, mà Quảng hoằng minh tập ghi lại.
Ngoài ra, cứ báo cáo trên của Hà Thượng Chi th́ Lâm có trao đổi thư từ
với Tôn Bính và Nhan Diên Chi về cuốn Bạch hắc luận, nhưng ngày nay
không một lá thư đă được bảo tồn. Trong bản mục lục Pháp luận do Lục
Trừng viết vào khoảng 465-469 và Tăng Hựu chép lại trong Xuất tâm tạng
kư tập quyển 12 ĐTK 2145 tờ 85a25-2a, ta thấy ngoài Quân thiện lua65n, Lâm
c̣n tác giả 3 luận văn khác: 1) Thích Huệ Lâm nạn, 2) Hôn nông vô thượng
luận và 3) Vấn nạn. Nhan đề của luận văn thứ hai tỏ ra lôi cuốn v́
nó đề cập tới hôn nhân và nông nghiệp. Tóm tắt, trừ Bạch hắc luận
và những bài truy điệu cùng thư từ với Tạ Linh Vận, những tác phẩm của
Lâm ngày nay hầu hết đă tán thất. Dẫu thế, chỉ một cuốn Bạch hắc
luận cũng đủ làm cho tiếng tăm Lâm vang dội và trở thành đầu đề bàn
căi của những trí thức lănh đạo thời ông, đặc biệt là Hà Thừa
Thiên.
Hà Thừa Thiên là một nhà thiên văn
học nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại. Tiểu sử ông t́m thấy trong Tống
thư quyển 64 tờ 6b13-13b1. Ông sinh năm 370 và mất năm 448 lúc 78 tuổi. Cứ
vào tiểu sử đây th́ h́nh như Thiên không có một liên lạc nào hết với
Huệ Lâm. Điểm may mắn là Tăng Hựu đă cho sưu tập lại phần lớn những
phát biểu của thiên về Phật giáo và dành hầu như hoàn toàn hai cuốn thứ
3 và thứ 4 của Hoằng minh tập cho chúng. Chúng ta nhờ thế biết tường tận
quan điểm và cảm nghĩ của Thiên đối với Lâm. Trong lá thư đầu tiên
viết cho Tôn Bính, để gởi kèm cuốn Bạch hắc luận của Lâm, Thiên viết:
"Đạo nhân Huệ Lâm ở chùa Trị Thành làm ra Bạch hắc luận, bèn bị
chúng Tăng bài tẫn, may nhờ gặp Minh chúa khéo cứu, nên miễn được tội
ba la di. Đă làm Tỷ-kheo, mà không chịu rơ điều ấy. Huống nữa hàng cư
sỹ như tôi, sao lại không nói"
Trong lá thư trả lời, Bính không
những phân tích một cách khá chi ly tác phẩm của Lâm và phê b́nh những
kết luận của nó, trái lại c̣n dẫn những người từ Kỳ Vức cho tới
Đạo An, Đạo Lâm và Huệ Viễn, rồi hỏi: "Thần lư phong tháo cuả họ
h́nh như rất không sau tỷ kheo Huệ Lâm, th́ đâu lại có chuyện họ bỏ
bậy nhân lư, cạo vứt tóc râu, để tin theo sự giáo hóa của người không
thật?". Đáp lại lá thư vừa dẫn của Bính, Thiên viết: "Túc hạ
đă biết, người thường không thể ngay cả lường đo việc gần, th́ nay
làm sao mà họ có thể hơn được trong việc lường đo việc trăm năm về
trước hay ngàn dặm nước ngoài? Lâm Tỷ kheo dù dáng mạo thầy tu, nhưng
bẩm tính ngay thật, h́nh như sâu biết sự chân ngụy, lại rất không chịu
kiêng sợ việc hộ kinh, thờ thầy, để ăn nói bằng những lời xảo mỹ.
Tôi do đó mà có ḷng kính trọng đối với ông ta". Hà Thiên đối với
Lâm là thế.
Điểm đáng chú ư hơn nữa là
thái độ của Tôn Bính trong câu trả lời nhận xét vừa nêu của Thiên.
Bính viết trong lá thư trả lời cho Thiên rằng: "Tôi quả không quen biết
Lâm tỷ kheo lại cũng không từng bàn luận việc đời với ông ấy. Nhưng
nếu túc hạ cho ông đó ngang hàng với Dữu Văn Bính, từ đó có thể
không thua ǵ Đạo Thúy, th́ cũng đang c̣n thua Trúc Pháp Hộ và Vu Pháp
Lan. Lời b́nh trước chưa hẳn là đă thất ngôn. Nếu Lâm thật có thể
có mặt mũi thầy tu, bẩm tính ngay thẳng sâu biết chân ngụy, th́ hà tất
chẳg hóa làm Thiên đế thích, để khích lệ người mau thành Phật
sao?".
Nhận xét vừa kể phải nói là đáng
ngạc nhiên, nhất là khi Bính xếp Lâm lên ngang hàng với Vu Đạo Thúy, nếu
không là với Vu Pháp Lan và Trúc Pháp Hộ. Đạo Thúy cố nhiên là một
nhân vật quan trọng trong thời Phật giáo du nhập Trung Quốc. Ông mất
trên đường qua Ấn Độ tại nước ta vào khoảng năm 320. Đạo Lâm đă
ca ngợi ông với bài minh sau:
- Anh anh thượng nhân
- Biết rơ lẽ trong
- Trí ngời ngọc chiếu
- Tiếng đức thơm lan.
Giả như Lâm ngang hàng với Thúy
theo xác định của Bính, th́ tối thiểu vị trí của Lâm trong lịch sử
Phật giáo Trung Quốc cũng không phải nhỏ mọn ǵ. Tôn Bính có tiểu sử
trong Tống thư quyển 93 và Nam sử quyển 75 tờ 3b3-4a6. Sống giữa những năm
374-443, Bính là một phật tử thuần thành, đóng góp không ít trong việc
giải thích Phật giáo cho người Trung Quốc. Ông là đệ tử của Huệ Viễn
(344-416), một nhân cách vĩ đại và hiếm có của lịch sử Phật giáo
Trung Quốc và thế giới. Nhận xét của Bính về Lâm do thế không phải
là thường.
Đối với vấn đề tham dự quyền
yếu, tiểu sử của Lâm trong Tống thư chỉ bằng ḷng ghi: "Trong khoảng
Nguyên gia, Lâm tham dự quyền yếu..., thế khuynh một thời". Nhưng Nam
sử đă thêm câu nhận xét của Khổng Khải về cuộc đời khá bận rộn
và khá phong lưu của Lâm như đă thấy trên. Khổng Khái có tiểu sử ở Tống
thư quyển 84 tờ 15a5-21a3. Cứ theo đó th́ Khải bị chém trong vụ gây hấn
Nghĩa gia năm 466, lúc mới 51 tuổi. Năm Khải sinh như vậy rơi vào khoảng
416. Thời gian để Khải phát biểu nhận xét trên về Lâm chắc chắn phải
sau năm 435 trở đi. Sau năm 435, Lâm do đó phải đang c̣n giữ chức "tể
tướng áo nâu" tại triều Văn đế. Kết luận này có thể chứng thực
một cách dễ dàng bằng cách đọc lại tiểu sử của Nghĩa Khương ở Tống
thư quyển 68 tờ 1a6-6a5 và Nam sử quyển 13 tờ 8a9-10a9.
Khương là người con thứ tư của
Vũ đế và em khác mẹ cuả Văn đế. Trong khoảng thời gian từ năm 435 cho
đến 440 Văn đế đau yếu, quyền hành đều do Nghĩa Khương xử dụng cùng
với bộ hạ của ḿnh là Lưu Trạm, Lưu Kỉnh Văn và Khổng Dân Tú. Đến
năm 440, khoảng tháng 4 bệnh bớt, Văn đế nghe phong phanh Dẫn Tú bàn việc
lập Khương làm hoàng đế. Trạm lại gây oán với Ân Cảnh Nhân. Đến tháng
10, Nhân cùng Văn đế ra chiếu bắt Trạm cùng các con và đảng bộ giao
cho đ́nh uư xử. Khương khiếp sợ, dâng biểu tốn vị, xin đổi ra làm thứ
sử Giang Châu. Trước lúc đi, "Khương lưu lại trong điện vua hơn 10
ngày. Quế Hương hầu Nghĩa Dung, Tần du hầu Nghĩa Tôn, Bí thư giám Từ Trạm
chi đều lui tới thăm hỏi yên ủi. Đến ngày nhận chức, rời để xuống
chữ thượng, Khương tới gặp vua, chỉ biết nh́n và khóc, không biết
nói năng ǵ. Vua sai Sa-môn Thích Huệ Lâm đến xem. Nghĩa Khương hỏi:
"Đệ tử có thể được trở về chăng" Huệ Lâm trả lời:
"Chỉ tiếc ngài không chịu đọc vài trăm cuốn sách". Khương từ
đấy trở đi thất sủng, để cuối cùng bị bàn tay của Văn đế giết
mười năm sau vào năm 451, lúc ông 43 tuổi. Khương bị nhận cổ chết, v́
ông từ chối uống thuốc do Văn đế gởi bởi "Phật dạy tự sát
th́ không được lại thân người". Đến năm 440 như vậy Lâm đang c̣n
làm việc cho Lưu Nghĩa Long. Kể tử ngày Long gọi Lâm cùng Tạ Linh Vân và
Nhan Diên Chi vào triều cho tới lúc đấy đúng mười ba năm.
Cuộc sống của Lâm trong giai đoạn
ấy, như Nam sử báo cáo, tương đối khá phong lưu, nếu không là khá thế
tục. Ông mặc áo lông con điêu, mang guốc gỗ cao, có những tên thư kư với
những chức thông tŕnh và thơ tá. Khách khứa lui tới rộn rịp, xe cộ đầy
ngơ. Nhà cửa ồn ào tiếng người hỏi han. Cũng chính trong khoảng thời
gian này, một vài chi tiết khá linh động về đời sống và tính t́nh Lâm
được ghi lại. Tiểu sử cuả Tạ Hoằng Vi ở Tống thư quyển 58 tờ
2b6-3b10 kể chyện, vào năm 427 anh của Vi là Ta Diệu mất "Hoằng Vi ăn
chay lâu ngày, buồn rầu quá lễ, năm tang tuy đă hết, nhưng vẫn không chịu
ăn thịt cá, Sa-môn Thích Huệ Lâm đến thăm Hoằng Vi, Hoằng Vi cùng ngồi
ăn, song vẫn một ḿnh ăn đồ chay. Huệ Lâm nói: "Đàn việt bản
thân đă nhiều bệnh, lúc này xương thịt lại gầy g̣; sau ngày tang, sao vẫn
không chịu ăn uống như thường? Nếu lấy cái việc vô ích để làm hại
đời sống, th́ đâu có đúng lẽ được. Hoằng Vi đáp: "Việc đổi
áo mũ tang, ấy bởi lễ không vượt, nhưng ḷng vẫn c̣n buồn chưa thôi,
nên phải vậy". Rồi bèn bỏ ăn, khóc lóc nghẹn ngào khôn xiết".
Từ chi tiết này, ta có thể rút ra
hai kết luận sau: Thứ nhất, Lâm có một cái nh́n khá thực tiễn về lễ
nghĩa. Hoằng Vi dĩ nhiên là một trong năm trọng thần của đầu triều
Nguyên gia cùng ngang bậc với Vương Hoa, Vương Đàm Thủ, Ân Cảnh và Lưu
Trạm. Việc Lâm can gián Vi, do thế chứng tỏ Lâm không những có liên lạc
mật thiết với những người cao cấp này, mà c̣n có những quan hệ t́nh
cảm riêng tư khá gần gũi, dẫn tới chuyện muốn đem quan niệm lễ giáo
của ḿnh để ảnh hưởng Hoằng Vi. Thứ hai, bữa ăn của Lâm với Vi chắc
là một bữa ăn mặn, bởi v́ trong bữa ăn hai người ấy th́ "Hoằng
Vi dữ chi cộng thưc, do độc tố thực" - chỉ một ḿnh Vi ăn chay, giả
thiết Lâm chắc ăn cá thịt. Cũng cần nhớ là Vy rất giỏi nấu nướng,
đến nỗi cả Văn đế cũng đến nhà Vi xin nấu ăn - thượng dĩ Hoằng Vi
năng doanh thiện tu, thượng tựu cầu thực - Bữa ăn do Vi đăi Lâm v́ thế
chắc một bữa ăn mặn. Đương nhiên, việc ăn mặn này không có ǵ đáng
ngạc nhiên cho lắm, bởi v́ thủ tục ăn chay chưa trở thành phổ quát
vào thời ông. Tăng sĩ ăn chay là một ngoại lệ hơn là thông luật, nên
Huệ Hạo đă có dịp ca ngợi một cách nồng nhiệt những vị sư triệt
để thi hành ngoại lệ ấy trong Cao Tăng truyện.
Chi tiết thứ hai được Giản Văn
đế nhà Lương ghi lại trong Kim lâu tử quyển 6 tờ 7b8-8a4. Nó đọc thế
này: "Hà Thừa Thiên ở tại ghế Thái Tỏ nói giễu Dữu Đăng Chi rằng:
"Nhân họa đổi thành phúc, ấy chưa chắc đều là thông minh". Dữu
Đăng Chi trả lời: "Tôi cũng từng vơi ba cây ấy cùng giết". Thừa
Thiên, khi Tạ Hối làm loạn, viết biểu cho Hối nói: "Đương thả
thuyền xuống phía đông, giết ba cây ấy". Cho nên ông Dữu lấy cái
chuyện ba cây để giễu. Thừa Thiên thất sắc. Thừa Thiên lại cùng với
đạo nhân Huệ Lâm ngồi với Thái Tổ. Thái Tổ sử hai người đánh cờ.
Lâm công chỉ ba con cờ mà gọi Thừa Thiên nói: "Chỉ nên theo ḍng thẳng
xuống giết ba cây đó". Lâm lập lời nói tới ba lần. Thừa Thiên lưng
toát mồ hôi, hoảng hốt khiếp sợ, đến nỗi bèn thua cuộc".
Chi tiết này dĩ nhiên nhắc lại việc
Thiên tham dự vào cuộc kháng chiến cuả Tạ Hối chống lại sự giết Từ
Tiên Chi và Phó Lượng của Văn đế vào mùa xuân năm 426. Hồi đóng ở
Giang Lăng, thả thuyền xuống phía đông tức xuống Giang Khẩu, nhưng bị
viện binh của Đàm Đạo Tề đánh lại. Hối chạy lên bắc Ngụy mượn
viện binh Thừa Thiên ra đầu hàng, được sống: Từ ngày ra hàng đến
năm 430, Thiên được thăng từ chức như man phủ sự lên thượng thư điện
trung lang kiêm tả thừa. Tới lúc Ân Cảnh Nhân được cất làm thượng
thư bộc xă vào năm 432 th́ Thiên bị Ân đổi làm nội sử Hoạnh Dưong, bởi
v́ "tính Thiên cương trực, không chịu khuất ư, bạn bè ở triều đ́nh
thường hay bị khinh vũ, nên đông liệt không bàn tán Thiên cho Nhân biết".
Đến năm 439, Thiên được gọi về triều, giao chức trước tác tả lang,
để viết quốc sử. Qua năm 442, được bổ làm quốc tử bác sỹ giảng
Hiếu kinh cho Hoàng thái tử. Từ năm 446, đổi làm d́nh uư. Chưa tới nhiệm
sở th́ vua muốn phong cho làm thượng thư bộ lại. V́ tiết lộ ư muốn
đó, Thiên bị miễn quan, rồi mất h́nh như cùng năm, thọ 78 tuổi. Cứ vào
bảng liệt kê vừa thấy, Lâm chỉ đánh cờ với Thiên từ năm 439 trở về
sau, khi Thiên đă hơn 70 tuổi và ở lại trong triều. Tống thư viết:
"Thừa thiên rất ưa đánh cờ, thường hay đánh bỏ việc. Thái Tổ
cho một bộ cờ. Thiên dâng biểu trần tạ. Vua đáp: "Cho bộ cờ, sao
quyết chẳng phải là thứ vàng Trương Vũ?". Việc Lâm lập lại ba lần
câu nói trào lộng cuả ḿnh, có lẽ là nguồn gốc cuả cái mô tả trên của
Huệ Hạo về chuyện "Hay đùa giỡn, ưa nói cười" của Lâm.
Cuối cùng, về chi tiết Lâm bị
đuổi ra nước ta. Chi tiết gồm có hai vấn đề. Thứ nhất là vấn đề
Lâm bị đuổi và thứ hai là vấn đề nơi Lâm bị đuổi đến. Vấn đề
đầu, tất cả những tư liệu trước thời Huệ Hạo cũng như sau ông đều
nhất loạt nói tới. Chúng ta có báo cáo của Hà Thượng Chi, Hà Thừa
Thiên, Trầm Ước, Lư Diên Thọ, Đạo Tuyên và Hoài Tín. Lư do cho việc đ̣i
đuổi Lâm nằm trong truyện Lâm viết Bạch hắc luận hay Quân thiện luận.
Thế th́ cuốn luận nay viết ra lúc nào? Ở trên, chúng tôi đă vạch ra
cái báo cáo của Hà Thượng Chi, nhưng đă vạch ra một cách nửa chừng, bởi
v́ trước khi bắt đầu với "lúc bấy giờ", Chi đă cho ta biết
"lúc bấy giờ" ấy là lúc nào.
Toàn phần báo cáo đấy bây giờ
có thể đọc thế này: "Nguyên gia năm thứ 12 tháng 5 ngày Ất Dậu có
ty tấu Đan dương doăn là Tiêu Mộ Chi dâng lời nói rằng: "Phật giáo
đă phát triển tới Trung Quốc trải tới bốn triều đại, chùa tháp h́nh
tượng ngày nay kể tới số ngàn, có thể làm động ḷng đùn bước để
được chiêu khuyến. Nhưng từ mấy lúc nay, ḷng tín của người ta ít ỏi.
Họ không lấy sự tinh thành làm mục đích, lại lấy sự cạnh tranh xa hoa
là quí trọng. Chùa cũ đổ nát th́ chẳng có ai sửa chữa, mà một người
lại muốn riêng tạo ra một chùa mới, để tự khoe khoang với nhau. Nên đất
hẹp nhà sang đến nay đều hết. Săng gỗ tre nứa, vàng đồng, gấm vải,
tốn không kể xiết. Thật là vượt sự vừa phải, trái với chế định,
nên gia kiểm soát. Nếu không làm để ngăn ngừa gịng tục chưa dứt. Xin
rằng, từ nay trở đi ai muốn đúc tượng đều phải đến kinh sư để
xin phép, ai muốn tạo dựng chùa tháp tinh xá trước hết phải đến châu
thú sở tại, tŕnh bày đầu đuôi rơ ràng, y việc bày lời, các châu tất
phải báo cho phép, sau đó mới được khỉ công. Giả như có ai tự túc tượng
đồng, tự làm chùa tháp th́ v́ không dựa vào chiếu thư luật luận, đồng
vàng săng gỗ ngói gạch đều thu nhập quan khố. Vua đồng ư với lời tấu.
Lúc bấy giờ có Sa-môn Huệ Lâm giả mặc áo thầy tu mà tự phá hoại đạo
ḿnh, làm ra quyển Bạch hắc luận. Thái thú Hoạnh Dương Hà Thừa Thiên
cùng Lâm đọ giáo, giúp nhau kích dương, viết Đạt tính luận..."
Nguyên gia năm thứ 12 tức năm 435. Vào năm 435 như vậy Bạch hắc luận đă
ra đời, để cho Hà Thượng Chi kết tội Lâm là "giả mặc áo thầy
tu mà tự phá hủy đạo ḿnh" Do đó chúng ta biết chắc chắn là, Lâm
phải viết nó trước năm 435.
Tiếp đến, trong những thư từ qua
lại giữa Tôn Bính và Hà Thừa Thiên về cuốn Bạch hắc luận, mà Tăng Hựu
đă cho sưu tập lại trong Hoằng minh tập quyển 3, Bính luôn luôn gọi
Thiên là Hà Hoạnh Dương, tức ông họ Hà ở Hoạnh dương. Cứ bảng liệt
kê chức tước của Thiên trên, ta biết năm 432 Ân Cảnh Nhân đổi Thiên
ra làm nội sứ quân Hoạnh Dương. Thiên làm việc ở quận này cho tới năm
439 mới được gọi về triều. Như báo cáo của Hà Thượng Chi nêu lên, năm
435 Thiên đă cùng với Lâm giúp nhau kích dương Bạch hắc luận. Do vậy, mặc
dù tiểu sử của Thiên không bao giờ nói Thiên giữ chức thái thú quận
Hoạnh Dương, như Thượng Chi điểm chỉ và Huệ Hạo ghi lại, điểm chắc
chắn là, Bạch hắc luận phải ra đời trước năm 435 và rất có thể trước
năm 433.
Rất có thể trước năm 433, bởi v́
trong lá thư đầu tiê gởi kèm theo cuốn Quân thiện luận cho Tôn Bính đọc
và phê b́nh Hà Thừa Thiên kể việc Huệ Lâm, sau khi viết Quân thiện luận,
bị chúng tăng đ̣i tẩn xuất, v́ họ coi sự viết nó như một ba la di,
nhưng nhờ che chở của Văn đế mà được cứu. Để một nhà sư có uy lực
và danh tiếng như Huệ Lâm bị đ̣i lột áo thầy tu và đuổi cổ; đặc
biệt khi chúng ta biết Lâm vào năm 426 đă chính thức vào làm cố vấn cho
Văn đế và đă có những liên lạc khá mật thiết với những danh sĩ
đương thời như Tạ Linh Vận, mà cao đức Huệ Viễn gần hai mươi năm
trước đây đă cho người gọi về Lô sơn viết tán, chắc hẳn một công
luận đă được tạo ra. Thời gian để cho một công luận như thế thành
h́nh, sau khi ra đời của Bạch hắc luận tất không thể ngắn ngủi, cứ
vào phương tiện truyền đạt và thông tin thời bấy giờ. Hà Thừa Thiên
đă chú ư đến nó, sau lúc nó đă tạo ra những bàn tán xôn xao và dị
nghỉ chỉ trích, như chính việc nói tới ba la di trong lá thư của ông. V́
vậy, giả như Thiên nhận được cuồn luận cuả Lâm chậm nhất là vào năm
433, th́ tối thiểu một năm phải trôi qua trước khi nhận sự việc do Thiên
ghi lại xảy ra. Quân thiện luận do thế có thể viết năm 433 hay sớm
hơn.
Nói năm 434 là năm chậm nhất, để
Thiên nhận cuốn luận của Lâm, bởi v́ mùa hè năm 435 Hà Thượng Chi và
Tống Văn đế đă nói tới cuộc bút chiến giữa Tôn Bính, Nhan Diên Chi
và Thiên. Năm 34 từ đó phải để ra cho cuộc bút chiến xảy ra. Ít nhất
là 12 lá thư và luận văn đă viết về Quân thiện luận và vấn đề nó
đề lên, như Hoằng minh tập ngày nay đă có. Thời gian cho số lượng thư
từ này lui tới tối thiểu cũng phải sáu tháng cho đến 1 năm, đặc biệt
khi những người liên hệ không một ai đă sống tại kinh đô Kiến Nghiệp.
Quân thiện luận như vậy phải viết năm 433, nếu không sớm hơn, sau vụ
bàn căi Biện tôn luận của Tạ Linh Vận vào năm 423.
Khi đă viết Quân thiện luận, Lâm
gặp phải những phản ứng khá mănh liệt từ tập thể tăng già Trung Quốc
thời bấy giờ, biểu hiện qua việc đ̣i lột áo thầy tu của Lâm. Họ
coi Lâm đă phạm một ba la di khi viết nó. Quả thật, nếu Lâm dám bảo
"Thích Ca biện nhi bất thật" th́ người ta có thể hỏi, sao Lâm vẫn
c̣n nhận ḿnh là "người con tinh thần cuả Thích Ca", là
"Thích Tử". Để hiểu tại sao một sự t́nh như thế này có thể
xảy ra, ở đây mặc dù phê b́nh một số học thuyết của "Phật
giáo", một số Phật tử vẫn nhận ḿnh là "con Phật", chúng
ta cần nh́n đến t́nh trạng Phật học tổng quát của giới trí thức và
Tăng lữ lúc ấy.
Kể từ ngày Phật giáo truyền tới
Trung Quốc, kinh điển thường là những suối nguồn cuả tin yêu nhiều hơn
là bàn căi. Nhưng bắt đầu cuối thế kỷ thứIII đầu thế kỷ thứ IV,
một phong trào Phật thực sự ra đời, phát triển song song với và cung cấp
chủ đề nghĩ suy cho phong trào huyền học thanh đàm, và Vu Đạo Thúy có
thể coi như là người khởi xướng, và chủ đề bàn căi là vấn đề sắc
không của kinh Bát nhă. Viết tựa cho Tỳ ma la cật đế kinh nghĩa sớ vào
khoảng năm 409, Tăng Duệ nói: "Từ gió huê đông thổi, lời pháp chảy
vang đến nay, tuy ngày àng thêm chỗ tiảng, nhưng sự cách nghĩa xa vời, trái
với lời cỗi gốc, nên sáu nhà thiên trệch mà không rơ tôn chỉ của
tính không".
Sáu nhà là ai? Nhờ một chút dẫn
của Nguyên Khương đời Đường trong Triệu luận sớ, người ta biết, sáu
nhà này là sáu nhà chủ trương những cắt nghĩa khác nhau về vấn đề sắc
không. Đó là thuyết bản vô của Đạo An, bản vô dị của Pháp Thân, tức
sắc của Chi Đạo Lâm, thức hàm của Vu Pháp Khai, huyễn hóa cuả Đạo Nhất,
vô tâm vô của Pháp Ôn và duyên hội của Vu Đạo Thúy, trong đó thuyết của
An và Thâm h́nh như bị Duệ đồng nhất. Trong số sáu học thuyết về sắc
không này, thuyết của Thúy dĩ nhiên là xưa nhất, bởi v́ Thúy sinh khoảng
290 tại Đôn hoàng và mất trên đất nước ta khoảng năm 320 lúc mới 31
tuổi. Cứ Trung luận sở-kư, "Vu Đạo Thúy viết Duyên hội nhị đế
luận, nói rằn, Duyên gặp nhau nên có, ấy là tục đế, suy chiết nó th́
không, ấy là chân đế, ví như săng gỗ hiệp lại làm thành nhà, nha
không có cái thực chất hiện hữu ở trước nó, nó do thế có tên mà
không có thực, cho nên Phật bảo La-đa: "Sắc tướng diệt hoại th́
thấy được cái không". Chỉ một vấn đề sắc không, mà trong một
thế kỷ tối thiểu sáu học thuyết khác nhau đă ra đời.
T́nh trạng ấy bước đến đầu
thế kỷ thứ V càng trở thành trầm trọng hơn, v́ những trường phái Phật
giáo mới xuất hiện ở Ấn Độ và sự giao thương liên tục giữa Trung
Quốc và Ấn Đô của những nhà truyền giáo và t́m đạo, dẫn tới việc
truyền thừa nhiều kinh điển chứa đựng những học thuyết khác nhau. Mỗi
một người theo một trường phái kích bác những trường phái khác, cho
chúng là tà thuyết. Mỗi một người theo một giới luật, kích bác những
giới luật khác, cho chúng là phi pháp. Ta có trường hợp Giác Hiền, dịch
giả của Bộ Hoa Nghiêm vĩ đại, bị tẩn xuất khỏi dịch trường La Thập.
Ta có sự t́nh Đạo Sanh bị tẩn xuất khỏi chùa Thạch viên và phải đến
ở núi Hổ Khưu, v́ giảng thuyết xiển đề có thể thành Phật, mà Huệ
Hạo viết: "Cựu học cho là tà thuyết, chê bai tức giận rất nhiều,
họ liền tŕnh ra cho đại chúng, đại chúng lột áo đuổi cổ đi".
Thậm chí có cái thuyết khá tân kỳ của Pháp Độ, "nói rằng, chỉ
chuyên học tiểu thừa, cấm học Phương đẳng, chỉ lạy Thích Ca, không lạy
thập phương Phật, ăn dùng bát đồng, không dùng ǵ khác, lại khiến các
ni nắm tay nhau mà đi". Huệ Hạo phải nhận xét: "Nhưng cũng may đạt
lượng quân tử chưa từng quay gót bước lui, chỉ ni chúng dễ tin, trước
theo sự giáo hóa của nó. Thật nữ nhân lư giải khó thỏa, sự tích dễ
bày, nghe nhân quả th́ tức khắc quay lưng, thấy biến thuật th́ bôn ba
theo chạy. Cái gọi là theo nhau mà rớt, chính là đây vậy". Rồi có
chuyện ngồi xoạc chân ra mà ăn, như những căi cọ giữa Phạm Thái, cha của
Việp, và Huệ Nghĩa, Huệ Quan, mà Tăng Hựu cho phép ra trong Hoằng minh tập.
Cũng chính trong cuộc căi cọ này, Thái ghi lại cái thuyết "vô sanh Phương
đẳng giải thị ma thơ".
Quả thật, Phật giáo tiền bán thế
kỷ thứ V tại Trung Quốc đang rơi vào một giai đoạn trưởng thành mới.
Trong t́nh trạng đó, nếu Huệ Lâm có bị tẩn xuất, chúng ta cũng không
có ǵ ngạc nhiên hết. Ngay cả một người với phẩm cách của Đạo
Sanh, mới chỉ nói tới xiển đề thành Phật, là đă bị gọi là nói tà
thuyết và bị lột áo. Huống nữa là Lâm vói những ăn nói kiểu
"Thích Ca biện nhi bất thật". Điểm đáng chú ư hơn nữa là,
trong khi Hạo chỉ ghi Lâm bị "đuổi ra Giao Châu", cả Tống thư lẫn
Nam sử đều xác định một cách rơ ràng, kẻ chủ động trong vụ tẩn xuất
là "cựu tăng", một từ ngữ, mà Hạo đă dùng khi mô tả việc
Sanh bị đuổi.
Lâm viết Quân thiện luận năm 433.
Những bàn căi trên cho thấy, Lâm vẫn đang c̣n tại kinh đô Kiến nghiệp
cho tới tối thiểu khi Văn đế bị bàn tay con ḿnh giết vào năm 453 và sự
che chở của Văn đế chấm dứt. Như trường hợp của Đạo Sanh, khi bị
đuổi, Lâm chắc rời chùa Trị Thành đến ở những chùa khác. Đạo Sanh
sau lúc bị đuổi, tới núi Hổ Khưu, rồi một thời gian sau dời tới ở
Lô Sơn và mất ở đấy vào tháng 10 năm Nguyên Gia thứ 11 (434). Đưa đám
Sanh, Lâm đứng ra làm bài truy điệu. Một tháng sau, Pháp Cương, người đă
viết thư chung với Lâm cho Tạ Linh Vận, cũng mất tại núi Hổ Khưu. Một
lần nữa, Lâm nhận trách nhiệm viết truy điệu Cương. Cả hai bài truy
điệu này, Đạo Tuyên đă bảo tồn lại trong Quảng hoằng minh tập quyển
23 ĐTK 2103 tờ 265b3-266b2. Đọc qua chúng ta sẽ có dịp thấy Lâm có những
t́nh tự ǵ đối với đồng đạo của ḿnh, sau khi lên tiếng phê b́nh gắt
gao Phật giáo thời ông. Bài truy điệu về Sanh đă làm tư liệu cho Huệ Hạo,
khi Hạo, khi Hạo viết tiểu sử của Sanh trong Cao Tăng truyện quyển 7,
nhưng không đóng góp một cách trực tiếp vào sự hiểu biết hành trạng
của Lâm trong liên hệ với Sanh. Tuy thế, để cho thấy Lâm đă có những
t́nh tự ǵ đối với đồng đạo ḿnh và văn tài siêu việt thế nào,
chúng tôi cho dịch lại từ đây.
"Nguyên Gia năm thứ 11 mùa đông
tháng 10 ngày Canh Tư Đạo Sanh pháp sư mất ở Lô Sơn. Ô hô ai tai! Người
hiền cáo tận! Sự đau xót ấy không cạn, Lẽ chung bảo mất, sự tiếc
thương âư lại sâu. Pháp sư vốn gịng họ Ngụy, người Bành Thành vậy.
Cha là huyện lịnh Quảng Thích, nhỏ mà kỳ tài, dắt tới Pháp Thải pháp
sư, đổi áo theo học, thiên bẩm thông mậu, tự ngộ xưa cao. Năm đang chí
học, đă lên ṭa giảng. Vọng đạo tài năng, sĩ phu tiếng nổi, thời ấy
chẳng ai mà chẳng hết lời cùng nghĩ, phục sự tinh trí, Lỗ Liên làm chịu
Điền Ba, Hạng Thác bả lư già, Khổng, thật không kịp vậy. Gia dĩ tính
t́nh trầm lặg và cương trực, khí ư ḥa hiệp mà dễ theo, hỷ xả để
mà cứu dụ, nên người càng trọng.
Đến tuổi trung niên, du học rộng
t́m dị văn từ miền Dương Việt lên tới Tây Tần, trèo núi Lỗ Nhạc,
đạp lối Hoạnh Sơn, ư nghĩa Đại thừa của La Thập, yếu chỉ tiểu đạo
của Đề Bà, người đều rơ biết, rộng nắm sự sâu sắc. Chỗ nghe
càng ưu, chỗ thấy lúc mỗi cao; nên đă hiểu rằng, h́nh tượng là chỗ
nương của lư lẽ, ôm chặt h́nh tượng, lẽ tất phải mê, lời dạy là
nhân có giáo hóa, giữ chặt ḷi dạy, giáo hóa phải ngu. Do thế, trưng
danh trách thật th́ tất phải lầm sai ở việc hư đản, t́m tâm ứng sự
th́ tất phải mê muội trước lời cách nghĩa.
Từ ngày Phật giáo truyền tới,
Trung Hoa học theo, chưa từng hay sản xuất một người thành công như thế
đấy, bèn bắt mê riêng đổi, để dấu c̣n tích, các kinh mây vạch, mọi
nghi sạch rơ, ư chỉ Thích Ca nhạt tỏ dễ t́m, quái gỡ những lời, đều
thành bàn suốt. Làm duỗi danh giáo Đam Chu, nắm lấy huyền tâm Tú Bật,
nhờ thế mà dễ.
Nhưng, vật sợ sáng lạ, ngựi
ghét cao tŕnh, giận nhóm đồng phục, ưa bè kết lũ. Chúng bèn dang cánh
co chân, dẹp ảnh người vào nơi hang huyệt, theo che chí đạo, quăng dấu
ngựi tới chốn ông Ngu. Vết chân lên thuyền, có đi không lại, mạng bỏ
núi non, buồn khắp đô thị. Ô hồ buồn thay!.
- Ḍng trong Tứ Biện
- Núi cao Lữ lương
- Trong kinh chốn ấy,
- Đức minh tuấn này
- Như lan của cỏ
- Như ngọc của đá
- Chẳng phải xông khắc,
- Cũng thành sặc sỡ
- Lúc nhỏ dốc học,
- Ḷng ôm huyền lư
- Nghe qua đă rơ
- Vạch văn t́m ư
- Nhỏ đă giảng ṭa,
- Lời chương đều chẻ
- Nói ít nhằm lành
- Không kể văn vẻ
- Người biết trọng theo
- Trung niên xét dại
- Chưa rơ hết lẽ
- V́ thế ra đi
- T́m học uyên vi
- Tuy gặp lời hay
- Càng biết gần giống
- Đường cùng hết ngơ
- Quay xe trở lui
- San bằng mọi khó
- Xiển dương giáo pháp
- Chân ǵ cũng tuôn
- Tối ǵ cũng tỏ
- Như trời mới rạng
- Ánh tỏa sáng rơ
- Tứ quả thập địa
- Dựa để sóng gió
- Đổi làm ngựa trâu
- Chứa đựng chim cá
- Ai vạch thật này
- Chẳng mê đạo đó
- Nghĩ măi điều đây
- Cùng người mở nói
- Đạo thành ở đây
- Chúng nghe đều đông
- Không chỉ chống lại
- Trách chê đa văn,
- Ta cho không hại
- Khuyên nên nói truyền
- Người biết trinh thành
- Hiểu dạy càng chuyên
- Lặng lẽ bỏ lớn
- Thôi không lên tiếng
- Ở nhiều thành tật
- Sống ẩn rừng tre
- Nghĩ nấp đầu suối
- Trải nhiều nhàn gởi
- Nói: Nhân giả thọ
- Mạng sống sợi treo
- Tằng không vĩnh cửu
- Lan bồ nối loại
- Khí chợt bi thương
- Ô hô buồn thay!
- Nghĩ mới vừa thăm
- Ba thu đang nhớ
- Gió lạnh ḍng trong
- Mây cao rừng trắng
- Đưa nhau bến nam
- Chia tay rẽ ngơ
- Đi đứng mang mang
- Buồn buồn t́nh ngó
- Ẩn dật quen ḍng
- Mỗi theo lối cũ
- Lo sợ măi chia
- Trở thành vĩnh cửu
- Ô hô buồn thay!
- Gió ngược lên làm tiếng dứt
- Mây đưa đi khiến không c̣n.
- Ba động xa tít đă hết
- Tuổi hiền chuyển tới xuân đang
- Nghe tiếng chim ca mà ḷng rộng
- Ngắm khí trời mà ḥa chan
- Nghĩ sở trường dưới trăng ấy
- Tin đạo nghiệp vào lúc lành
- Nhớ giảng đường khi thăm vắng
- Thương cao ṭa lúc nghe không
- Tham việc nhân để xót lư
- Buồn duyên khả để nhớ ông
- Ô hô buồn thay!
- Trời đất khả thám
- Lẽ không một mai
- Chúng đều cùng nhóm
- Ngắn ngủi gọn t́nh
- T́nh c̣n để lại
- Ngắn lời không đủ
- Nhờ để tả buồn
- Ô hô buồn thay!".
Bài truy điệu này, như chính câu mở
đầu thú nhận viết vào tháng 10 năm Nguyên Gia thứ 11, tức năm 434. Nột
số văn cú đă để lộ ra không ít những quan hệ t́nh cảm và lư thuyết
giữa Huệ Lâm và Đạo Sanh. Không khác ǵ Lâm, Sanh sau khi bị tẩn xuất
khỏi chùa Thanh Viên, khi ông tuyên truyền thuyết xiển đề thành Phật, dựa
trên quan niệm kinh Niết bàn do Pháp Hiển mang về Trung Quốc vào năm 412.
Đây là theo báo cáo của Cao Tăng truyện. Cứ chính truy điệu của Lâm,
th́ Sanh bị tẩn xuất v́ đă phê b́nh một số nhà sư dùng "tứ quả
thập địa, dựa lên để làm sóng gió" để "mê hoặc mọi người
với chuyện hư đản", ăn nói "những lời quái gở". Chúng ta
dĩ nhiên không thể xác định một cách quái gở". Chúng ta dĩ nhiên
không thể xác định một cách dứt khoát sự thật, bởi v́ chúng đều đúng.
Hạo v́ những ác cảm đối với Lâm, hắn đă bỏ lư do cá nhân mà Lâm
ghi lại.
Cứ vào bài truy điệu, Lâm đă có
những liên lạc với Sanh, khi Sanh trở về Kiến Nghiệp, sau buổi đi học
với La Thập, lúc Sanh sống ở chùa Thanh Viên, khoảng những năm 414. Từ
đấy cho tới khi Sanh chết trước 3 năm, chúng ta không biết một tí ǵ hết.
Nhưng ba năm trước khi Sanh mất, Lâm đến thăm, như những mô tả buổi
chia tay đầy thương yêu và xót xa cuả Lâm chứng tỏ. Bằng những lời lẽ
của bài truy điệu, đặc biệt là ở 4 câu cuối cùng "ngắn ngủi gọn
t́nh, t́nh c̣n để lại, đoàn chương không đủ, nhớ để tả buồn",
th́ Lâm và Sanh vẫn tiếp tục thăm viếng nhau, kể từ khoảng năm 414 trở
đi, khi Sanh bị đuổi khỏi chùa Thanh Viên, và đă có những mối t́nh đậm
đà với nhau. Lâm chắc hẳn đóng một vai tṛ nào đấy trong quyết định
tuyên bố quan điể ḿnh của Sanh, bởi Lâm viết: "Ta cho không hại,
khuyên nên nói truyền".
Bài truy điệu cuả Lâm như vậy nói
lên khá nhiều t́nh tự của Lâm như một nhà sư Phật giáo. Nhưng bài truy
điệu viết nhân lúc Pháp Cương mất lại càng để lộ ra nhiều hơn nữa,
cho ta thấy một cách hầu như phơi bày tất cả tâm niệm khá đau ḷng cũng
như những u t́nh rất trắc ẩn cuả cuộc đời Lâm. Nó có thể nói phản
chiếu trọn vẹn khuôn mặt nội tâm cuả một con người, mà Huệ Hạo đă
mô tả một cách khá sai lầm là "ưa đùa giỡn, hay nói cười". Nó
đọc thế này:
"Nguyên Gia năm thứ 11 tháng 11
ngày Tân Tỵ, Pháp Cương pháp sư mất. Ô hô buồn thay! Rằng, đứng cao sửa
vuông đa hại suốt thông, theo thấp sánh tṛn lại thiếu cứng sạch; ở
núi mắc cái tội ốm gầy, sống làng gặp cái bệnh ồn hẹp. Chọn lấy
hai t́nh mà bỏ đi đôi việc, pháp sư quả đă có chúng vậy. Ít đến
kinh thành, luôn ngại rừng thẳm, vui chí mà đi, theo t́nh mà đến, chán
nhàm gịng đời, t́m nhàn nơi cây đá, ḷng luyến hang động, mong vui ở
ngoại vật. Chứng cho không đặc tháo, ta thấy bậc làm thầy, thật vậ.
Tính trời minh thông, luyện dần phong vị, t́nh lư thung dung, thường giỏi
văn nghĩa. Giao du chân thật hết chỗ giống. Nhắm đích mến yêu đạo
trường tồn. Chôn thân áo pháp, lụy cân đai sớm dứt. Cao gót đất thần,
chướng dân vua xưa bỏ. Huống nữa, vết cao xa cuả tăng môn, há dẫn đường
bọn xu phục? Xưa nhân gặp gỡ, xuống đỗ xe kết giao, cùng nhau xuống
tóc, càng hiệp vui hơn, bày nhung giải nhớ, để gởi tháng năm. Bèn dắt
tay đi Lương, đọ cánh đến Đặng, hưởng gió núi thiêng, mang đạo bến
thẳm, so vui bằng yến; ngàn dặm một khắc, từ đấy rừng đổ chim bay,
bỗng chốc đầy tuổi. Người đậu cành cao, ta ch́m bùn cặn, thường
mong gặp Tăng Bốc cùng ở, th́ hóa thành mối sông núi biệt ly của Lương
Cao. Sóng đông không lại, tây cảnh chẳng thu, hết chỗ ḍng trôi, cốt về
đồi Tặng. Ô hô buồn thay! Xin truy điệu rằng:
- Ḍng ông họ Ân
- Thật con cháu Thang
- Tiếng vinh dấu ẩn
- Nguyên lưu sáng choang
- Nhỏ gặp đau yếu
- Nhà không áo manh
- Cô hiền nuôi nấng
- Nhờ thế dưỡng thành
- Đến thời ba bốn
- Dĩnh đặc thông minh
- Sánh Song Kỳ đẹp
- Ngang Ngẩu La thông
- Ḷng chê Trung Quốc
- Trí với cảnh thần
- Cởi bỏ đời gần
- Mến yêu duyên vĩnh
- Đă theo dấu huyền
- Rơ hiểu danh tích
- Nhân nghĩa bỏ ngoài
- Toàn không chút tiếc
- Ư nhà chẳng thỏa
- Rồi cũng phải thích
- Không thèm quan chức
- Chọn sống động hang
- Đến không ướt chân
- Đi không mất cánh
- Lừng lựng bay lên
- Tới lui thêm bớt
- Ta ghét phù ba
- Người hay tức tâm
- Đồng vung ơn đạo
- Cùng nhóm rừng đức
- Gió ḥa cùng phới
- Cùng nghe tiếng bậc
- Ta bước về đô
- Người như trước mặt
- Đi giảng xa xôi
- Ḷng nhớ dằng dặc
- Đến khi rời xa
- Đạo thời vằng vặc
- Người xa núi xưa
- Ta về cung bặt
- Với nhau cùng xe
- Dưới bóng nghỉ mát
- Tro lạnh khói tàn
- Lá rụng chẳng dứt
- Ước trái không theo
- Người bèn xuống đất
- Chúng bảo mất mang
- Gió nhớ ức uất.
Ô hô buồn thay! Đêm đông lạnh lẽo,
tiêu điều ven sông, gió xe màn toạc, tuyết rot vào tṛng... mạng người
ngắn đứt, đường về ngái mong, xót xa kẻ mất, lặng lẽ khóc ṛng, một
ḿnh cô lữ, Trời đất chẳng trông. Ô hô buồn thay! Mong đến sống đất
Hổ Khưu, thương mất mờ nơi Lô Lĩnh, nghĩ hái lộc tại hoa kinh, nhớ dắt
tay ngoài phiên cảnh, t́nh phiêu diễu ở đôi sườn, trí triền miên miền
Lưỡng Tỉnh, sao ràng buôc hề không dứt, ḷng nhớ nhung hề dằn vặt,
gió đông hề đă hết, nắng hè nực hề vừa mất, bốn mùa đổi thay rối
rít, t́nh càng sâu để dấu lâu, nếu lai duyên quả chẳng mất, xin gói trọn
sanh niên để xót xa. Ô hô buồn thay!".
Đấy là bài truy điệu do Lâm viết
cho pháp sư Pháp Cương. Đọc nó, ta có thể thấy một cách khá trọn vẹn
nỗi đớn đau tâm trạng của Lâm, không những đối với người bạn vừa
chết, mà c̣n đối với thân phận của chính ḿnh. So với bài viết cho
pháp sư Đạo Sanh, mà như đă nói, Lâm hẳn đă có những liên lạc mật
thiết, bài đây quả phải kể như một tiếng khóc thầm cuả ḷng một
con người mà bên ngoài. "Ưa nói cười hay đùa giỡn". Nếu Lâm
trong cuộc sống thường ngày có "ưa nói cười hay đùa giỡn" th́
đó là một che lấp những đớn đau tan nát của nỗi ḷng bên trong.
Lâm, như đă vạch ra trên, là một
nhân vật trọng yếu của chính quyền Nguyên Gia, là một tinh hoa không những
của Phật giáo thế kỷ thứ V mà c̣n của nền trí thức Trung Hoa cùng thời.
Ông đă có những liên lạc thâm giao hầu như với hết cả những trí thức
nổi tiếng của thời ông từ khoa học cho đến thi ca, từ Hà Thừa Thiên
cho tới Tạ Linh Vận. Thế mà, Lâm đă thố lộ "người đậu cành
cao, ta ch́m bùn cặn". tử bạc cao kha, dư luân nê chỉ. Quả thật, thổ
lộ ấy có thể tóm tắt hết cả tâm trạng đau thương của cuộc đời
ông. Chưa bao giờ ta thấy một nhà sư viết truy điệu cho đồng đạo cuả
ḿnh đă nói lên những lời như vậy. Chưa bao giờ ta thấy một tiếng khóc
đầy đau thương của một người, mà sử gia từ thời Thẩm Ước, Lư
Diên Thọ trở đi đă được bảo là "quyền mâu tể phụ" và
"hắc y tể tướng" thể hiện trong một truy điệu viết cho bạn ḿnh.
Đọc những bài truy điệu loại này,
ta mới hiểu tại sao Lâm đă viết những ḍng đầy đanh thép và có vẻ
"hủy báng" Phật giáo trong cuốn Quân thiện luận của ông, và tại
sao, sau khi viết chúng, Lâm vẫn tiếp tục sống cuộc đời của một nhà
sư, dẫu những kẻ quyền thế khác kiểu Hà Thượng Chi năm sau đă chửi
bới là "giả làm thầy tu để tự hủy phá đạo ḿnh". Huệ Lâm
"có tự hủy phá đạo ḿnh" hay không, chúng ta sẽ có dịp bàn
căi trong mục nói về Quân thiện luận. Ở đây, chỉ cần vạch ra là vai
tṛ của Lâm trong việc phát triển và truyền bá Phật giáo tại Trung Quốc
không phải nhỏ mọn ǵ, đến nỗi một người viết sử như thầy Mật
Thể đă dành dịp kể tới tên ông trong bảng tóm tắt lịch sử Phật
giáo Trung Quốc ngắn ngủi của thầy.
Thế th́, Pháp Cương là ai? Cho đến
nay, ngoài bài truy điệu vừa kể và lá thứ viết chung với Lâm cho Tạ
Linh Vận chỉ một mẫu tin khác đă t́m thấy liên quan tới ông trong thiên
văn học của Thế thuyết tân ngữ quyển thượng tờ 28a2-b1, mà Lưu Nghĩa
Khánh (403-444) đă ghi lại và làm tư liệu cho tiểu sử của Tăng Già Đề
Bà trong Cao Tăng truyện quyển 1 do Huệ Hạo viết sau đấy. Chuyện Nghĩa
ghi lại thế nà: "Đề Bà lúc mới tới kinh sư, giảng A tỳ đàm cho
Đông đ́nh hầu ở nhà. Mới ngồi nghe giảng được một nửa th́ Tăng Di
liền nói: "Đều đă hiểu rồi". Tức rời chỗ ngồi ḿnh cùng
vài bổn đạo nhân, đến nhà riêng của ḿnh mà tự giảng. Đề Bà giảng
xong, Đông đ́nh hỏi đạo nhân Pháp Cương: "Đệ tử đều chưa hiểu,
em Di cuả đệ tử sao có thể hiểu liền ngay như vậy?". Pháp Cương
trả lời: "Đại khái th́ ngay như vậy?" Pháp Cương trả lời:
"Đại khái th́ những ǵ Di giảng đều đúng, chỉ có một số chi tiết
nhỏ mọn là chưa vạch rơ thôi". Chú thích đoạn văn vừa dẫn, về
Pháp Cương, Lưu Hiếu Tiêu (462-521) bảo "thị tộc chưa rơ". C̣n về
sự tinh chung, ông cho dẫn một đoạn văn từ Xuất kinh tự "Xuất kinh
tự nói rằng; "Đề Bà vào khoảng đầu Long an đến kinh sư, Đông đ́nh
hầu Vương Tuân nghênh đến nhà ḿnh giảng A tỳ đàm. Đề Bà rơ tôn chỉ
mà c̣n phát lộ nghĩa sâu. Vương Tăng Di cỉ một lần nghe, liền tự giảng.
Sự rơ nghĩa để mở ḷng người của ông là nhưi vậy. Chưa rơ năm ông
mất".
Đúc kết hai mẫu tin vừa dẫn, Hạo
viết Cao Tăng truyện: "Đến Long An năm thứ nhất, Đề Bà tới kinh sư.
Vương Công và phong lưu danh sĩ triều Tấn, chẳng ai là chẳng đến chỗ
ông giảng trí kinh. Lúc bấy giờ, vệ quân Đông đ́nh hầu Vương Tuân đât
Lang Nha hiền lành có ḷng tin sâu sắc, phù tŕ chánh pháp, kiến lập tinh
xá, rộng mời học chúng. Khi Đề Bà tới, liền cùng cung thỉnh, xin đến
giảng A-tỳ-đàm. Danh tăng đều nhóm nghe, Đề Bà đă rơ tôn chỉ, lời lẽ
lại chính xác, nên nêu phát nghĩa lư, làm cho người nghe đều vui hiểu. Lúc
ấy, Vương Tăng Trân (đúng ra phải sửa thành Vương Tăng Di - Lê Mạnh
Thát chú) cũng tại giảng đường nghe giảng. Sau ở nhà ḿnh, Di tự giảng.
Tuân hỏi đạo nhân Pháp Cưong: "Sở đắc của Tăng Trân thế
nào?". Cương trả lời: "Đại lược th́ đều đúng, chỉ tiểu tiết
là chưa xét". Sự tŕnh bày rơ ràng dễ làm ḷng người hiểu của Đề
Bà là như thế đấy".
Vương Tuân là em Vương Tăng Di dĩ
nhiên đều là những danh thần của triều Đông Tấn. Tuân sinh năm 349 và
mất năm 400. Di sinh năm 361 và mất năm 388. Long An nguyên niên tức năm 397
Do thế, Đề Bà không thể đến kinh sư nhà Tấn vào khoảng Long An được,
ob73i v́ Vương Tăng Di đă mất gầ 10 năm trước đó. Có lẽ ông phải giảng
kinh chậm lắm th́ cũng khoảng vào năm 388. Dẫu sao chăng nữa, Cương đă
có những liên lạc với Tuân cũng như Đề Bà_1. Gần bốn mươi năm cho tới
lúc chết năm 434, Cương như vậy đă là một "danh tăng" như Hạo
bảo. Mặc dù bài truy điệu Lâm viết không ghi rơ Cương mất lúc mấy tuổi.
Cứ vào dữ kiện vừa nêu, ta có thể giả thiết là, Cương tối thiểu
cũng phải trên dưới ba mươi tuổi, lúc Tuân hỏi ông. Nói cách khác, Cương
phải sinh khoảng năm 350-360. Bấy giờ, bài truy điệu bảo, Cương sống
ở Hồ Khưu. Núi này Trúc Hạo Nhất của Cao Tăng truyện quyển 5 đă nhờ
vào sự kính mộ của anh em Vương Tuân làm nên hai ngôi tinh xá, mà sau đấy
thành chùa Đông và chùa Tây, vào khoảng năm 368. Em của Tuân dĩ nhiên là
Vương Dân, tự Tăng Di. Đầu năm ấy, Nhất ra ở chùa Ngỏa quan tại Kiến
Nghiệp để học với Pháp Thải. Đến khi Giản Văn đế mất, tức khoảng
năm 372, Nhất về Hổ ngưu. Khoảng năm 397-401, Nhất mắc bệnh, chết ở núi
ấy, thọ 71 tuổi. Pháp Cương với những liên lạc với Vương Tuân và Vương
Dân do thế hẳn đă có một quan hệ nào đấy với Đạo Nhất, nhất là
khi ông sống tại ngọn núi do Nhất khai sơn. Cương, cứ bài truy điệu đă
đi lên Lương Châu để sống ở núi Đặng Ta không biết chuyến du cư này
xảy ra năm nào. Nhưng bằng vào việc Đạo Sanh, khi bị đuổi khỏi chùa
Thanh Vi