| MỤC LỤC |
VẤN ĐÁP VỚI THẦY THANISSARO Thầy Thanissaro (truyền thống Lâm
Tăng của Thái Lan), trả lời các câu hỏi của độc giả tạp chí Tricycle.
Ngày 2 tháng 7,
2007 |
Trở Về Trang Chủ | ||
|
Giáo
Lư Vô Thường Không Có Ngă Hay Không Phải Ngă Gốc rễ của Chủ Nghĩa Lăng Mạn Phật Giáo Phật giáo và vấn đề trầm cảm, cai nghiện, từ bỏ thói xấu, huân tập tính tốt. |
Giải Nghiêm chuyển ngữ (Chúng tôi thêm tiêu đề và sắp lại thứ tự các câu hỏi theo chủ đề khi dịch) Phần VI: Câu Hỏi Quanh Sự Tu Tập
1. bapanda hỏi: Làm nhà văn viết truyện hư cấu có phải là sống bằng tà
mạng hay không, v́ liên quan đến việc nói lời không thật? Có phải bịa truyện
ra từ trí tưởng tượng của ḿnh cũng là bà con với nói láo? Viết truyện hư cấu có thể là chánh mạng nếu ḿnh làm theo hai cách này: (1) Làm rơ ra rằng những ǵ ḿnh viết chỉ là hư cấu (hăy nghĩ đến câu thoái thác người ta thường hay đề ở đầu một cuốn tiểu thuyết: tất cả các sự kiện và nhân vật đều là hư cấu.) Làm như vậy, việc hư cấu không lừa dối ai, bởi v́ ḿnh đă thú nhận ngay từ đầu rằng ḿnh chỉ miêu tả những ǵ ḿnh tưởng tượng ra mà thôi. (2) Ḿnh không viết để khơi dậy tham muốn, dục vọng, sân giận, hay si mê lầm lạc nơi người đọc. Thay vào đó, ḿnh mong khơi lên những phần tốt đẹp hơn trong tâm họ, để đọc xong, họ không những tiêu khiển được mà c̣n có thêm trí tuệ và từ bi v.v… 2. pema2 hỏi: Tôi thích mơ mộng và lạc vào thế giới tưởng tượng. Điều
này nuôi dưỡng sức sáng tạo của tôi, nhưng lại có vẻ không được chánh niệm
cho lắm. Thầy thấy suy nghĩ vẩn vơ và tưởng tượng có ích lợi ǵ không trên
phương diện tâm linh? Cách sử dụng trí tưởng tượng hay nhất là h́nh dung làm sao ḿnh có thể vượt thoát ra khỏi các vấn đề trong đời ḿnh, các vấn đề trong sự tu tập. Nói khác hơn, ḿnh t́m cách h́nh dung ra những cách tu sửa, và thử nghiệm xem chúng có đưa đến hạnh phúc chân thật mà ḿnh tha thiết muốn đạt hay không. Đây là loại tưởng tưởng dùng cho mục đích, mở ra nhiều khả năng mới. Không có loại tưởng tưởng này, đời sống bị giới hạn, và thiền tập trở nên khô khan, máy móc. Về tưởng tượng vu vơ, bạn phải tự hỏi xem ḿnh thật sự gặt hái được ǵ từ đó, ngoài những khoảnh khắc lâng lâng ngắn ngủi. Đời sống ngắn ngủi lắm, bạn không muốn phí phạm cuộc đời bằng cách đắm ḿnh trong các sinh hoạt không mang lại hạnh phúc lâu dài đâu. 3. Rond hỏi: Tôi hiểu khái niệm thế giới là mộng ảo của
Phật giáo, nhưng sự hiện hữu của của vật chất và việc xoay sở theo nó là
những điều không thể bỏ qua. Người Phật tử giải thích thế nào về việc dồn
quyết tâm đi theo giáo Pháp trong cái thực tại mộng ảo này? Đức Phật chưa bao giờ
nói thế giới là mộng ảo. Trường hợp Ngài đến gần nhất với quan niệm này là
khi Ngài bảo đi t́m một thực thể nơi những cái như thọ, tưởng, hay thức của
giác quan v.v… th́ cũng giống như đi t́m thực thể nơi bọt nước, bong bóng
nước, ảo ảnh, cây chuối, hay tṛ ảo thuật. Ngài không nói rằng những thứ này
không có thực – những cây chuối là một thực tại – nhưng ḿnh không thể đặt
nền tảng cho một hạnh phúc lâu dài trên chúng. Đức Phật nói điều quan trọng phải biết về kinh nghiệm thế
giới (y báo & chánh báo) của chúng ta là: nó sản phẩm của những hành động và
ư hướng của ta, và cái khổ do các nghiệp bất thiện của ta gây ra là một sự
thật. Khổ ấy không huyền hăo. Tiềm năng hành động như thế nào để chấm dứt
khổ cũng là một sự thật. Đó là hai trong bốn sự thật cao quư mà Đức Phật
dạy. V́ vậy ta phải dồn quyết tâm để làm cho ba nghiệp và ư hướng của ta
càng thiện càng tốt, để chúng ta sống trong thế gian mà không gây đau khổ và
để có thể cuối cùng đạt đến tự do hoàn toàn đối với nghiệp và ư hướng. Đó có
phải là điều tốt đẹp không? Đó có phải là một khả năng có thể xảy ra không?
Ḿnh không biết được nếu ḿnh không thực sự dồn quyết tâm để t́m cho ra cậu
trả lời.
Cảm ơn bạn. Đức Phật dùng từ “không” trong hai nghĩa. Trong nghĩa
hành thiền, Ngài nói về những trạng thái vi diệu của định, vắng bóng những
cái khổ và những bất an vi tế ở những trạng thái định thô hơn. Trong nghĩa
kinh nghiệm giác quan, ngài nói rằng các căn (giác quan) của chúng ta và các
đối tượng của chúng đều không có ngă, và những thuộc tính đi kèm với ngă –
nói khác hơn: không có một cái “ta” cố hữu, hay một cái “của ta” cố hữu
trong chúng. Quan điểm “không” nghĩa là “không có một tự tánh” là một
quan điểm thời sau này, do ngài Long Thọ (Nagarjuna) sáng chế. Ngài tranh
luận với một số luận sư Phật giáo, những vị này nói rằng mỗi sự việc mà ta
cảm nghiệm được đều có một tự tánh. Luận điểm của Long Thọ là nếu sự việc có
tự tánh, th́ chúng sẽ không sinh diệt. Hơn thế nữa, nếu khổ có tự tánh, th́
ḿnh không thể nào giải thoát khỏi khổ được. Cơ bản, điều Long Thọ khám phá
ra là điều Đức Phật đă từng tŕnh bày bằng một ngôn ngữ giản dị hơn: mọi sự
đều do duyên. (Ngài Long Thọ cũng đi đến điểm này khi định nghĩa không theo
lư duyên sinh.) Nếu ḿnh muốn
thoát khổ, ḿnh phải chấm dứt các duyên gây ra khổ, và khổ tự đó sẽ chấm
dứt. Nếu bạn không thích từ “không” theo nghĩa này, bạn có thể
thay thế từ ấy bằng “do duyên” v́ từ này có ứng dụng thực tiễn. Nó hướng
ḿnh tới các điều kiện và nguyên nhân, đặc biệt là các nhân duyên nằm trong
khả năng thay đổi của ḿnh, khiến chúng đi về hướng tích cực hơn. Các từ
“không có thực chất” (insubstantial) và “phù du” (ephemeral) chỉ nói lên
tính chất mau thay đổi mà thôi. Chúng không chỉ cho ḿnh hướng giải thoát.
5. equalizer hỏi: Thầy nghĩ sao về con đường ‘nhất
nguyên’ (Advaita) của Ấn Độ giáo, chủ trương “Tôi là cái đó.” Nghĩa là, tôi
chính là sự Tỉnh Giác, hay Tịnh Thức, hay Phạm Thiên, hay Phật Tánh. Về bản
chất, có điểm tương đồng giữa đạo của Thầy và Ấn Độ giáo không? Đức Phật dạy rằng bất
kỳ định nghĩa ḿnh như thế nào – cho dù là ư niệm tịnh thức hay Phật tánh,
hay bất cứ ǵ đi nữa – tức là tự giới hạn ḿnh. Đó cũng là chướng ngại cho
việc nhận biết nhân quả vận hành như thế nào trong tâm ḿnh. Nếu ḿnh nghĩ
ḿnh vốn là xấu, ḿnh không tin rằng ḿnh có bất cứ một chút căn lành nào
bên trong để có thể phát triển những đức tính thiện. Nếu ḿnh nghĩ ḿnh vốn
là thiện, ḿnh sẽ không thấy được thiện ác trong tâm thường thay đổi và lệ
thuộc vào điều kiện: điều này thường dẫn đến sự tự măn, tin rằng bổn tính
thiện sẽ dàn xếp tất cả. Đặt qua một bên những
ư niệm về bản chất hay bản sắc, đức Phật khuyên ḿnh chuyên chú vào vấn đề
trước mắt: những nỗi khổ không cần thiết ḿnh gây ra do không biết khổ thành
h́nh như thế nào, và ḿnh có thể thay đổi cung cách của ḿnh như thế nào để
chấm dứt khổ. Khi đi theo con đường này đến mức rốt ráo, th́ có một hạnh
phúc toàn toàn, không bị điều kiện hoá, vượt thoát không gian và thời gian.
Ajaan Suwat, một trong những vị thầy của tôi, có lần nói: khi đạt đến hạnh
phúc không do điều kiện mà thành, ḿnh sẽ không c̣n phải chơi tṛ chữ nghĩa
quanh đề tài ai nếm được hạnh phúc đó, hoặc hạnh phúc đó là ǵ.
6. ananda hỏi: Có thể giác ngộ hoàn
toàn trong kỷ nguyên hiện tại không? Hầu hết các vị sư trưởng đều thành thật
nói rằng họ c̣n đang trên đường thực tập. Điều này có khiến người ta phải
đặt những câu hỏi lớn cho giáo pháp hiện hành và cách diễn dịch kinh điển? Tôi không thể nói cho các truyền thống khác, nhưng có một
số ajaans trong truyền thống lâm tăng Thái Lan – trong đó có những vị khá
trẻ - được xem là đă giác ngộ hoàn toàn. Như vậy, vẫn có thể giác ngộ hoàn
toàn - nếu ḿnh hết ḷng hết sức.
7. jumpalagi hỏi:
Các từ “tỉnh thức”, “giác ngộ” (awakening), “sáng tỏ” (enlightenment) và
“Niết Bàn” có vẻ hay được dùng thay đổi với nhau. Thật sự có dùng thay đổi
như vậy được hay không? Nếu không, th́ nghĩa của các từ ấy khác nhau như thế
nào? Đây có phải là điều quan trọng cần phải biết không? Xin cảm ơn Thầy và
chúc Thầy vô lượng an lành. “Tỉnh thức”, “giác ngộ” (awakening), và “sáng tỏ”
(enlightenment) được dùng để dịch chữ bodhi trong tiếng Pali/Sanskrit. Thầy
Bodhi, v́ là tên của thầy, có thể nói là có quyển quan tâm đến từ này☺,
thích dùng chữ “enlightenment” (sáng tỏ) hơn, v́ h́nh ảnh ánh sáng thường đi
kèm với bodhi trong Tạng Pali. Tôi thích chữ “giác ngộ” (awakening) v́ nó
gần nhất với từ Pali gốc cho chữ bodhi, và v́ từ này giúp tránh nhầm lẫn với
khái niệm Enlightenment (Sáng Thế) của Châu Âu vào thế kỷ 18. Niết Bàn (Nirvana) là sự giải thoát (tự do) hoàn toàn. Bodhi là kinh nghiệm đưa đến – trong đó có sự khám phá, nhận ra - sự giải thoát hoàn toàn. Sự phân biệt chỉ quan trọng trong khía cạnh: khi tiến tới một kinh nghiệm giải thoát, ta cần nhận định xem sự giải thoát đó có phải là giải thoát hoàn toàn hay không. Kinh Pali nói: trước hết có tri kiến về luật vận hành của Pháp, sau đó có tri kiến về Niết Bàn. Chiếu theo sự giác ngộ của Đức Phật, tri kiến về luật vận hành của Pháp bao gồm cái biết về đời trước, về chúng sinh khi chết sẽ theo nghiệp sinh lại thế nào, về dục, kiến, hữu và vô minh đi đến chỗ hoàn toàn chất dứt. Chiếu theo những đoạn khác, tri kiến về luật vận hành của Pháp có nghĩa là cái biết về duyên sinh, tức là: hiểu sự mê mờ (vô minh) về nhân quả đưa đến những ư hướng bất thiện như thế nào, và sự hiểu biết (minh) có thể dẫn đến các ư hướng cực kỳ khéo léo (thiện) đến độ có thể đưa đến chỗ chấm dứt mọi ư hướng (nghiệp) như thế nào. Chừng nào đi cùng với cái thấy về ư hướng (nghiệp), sự giác ngộ (awakening/enlightenment) mới đúng là chân chính. Và chỉ khi ấy sự giải thoát mới được hoàn toàn – nghĩa là đúng chân Niết Bàn. |
Thanissaro Bhikkhu
"Ai vi
phạm một pháp,
"Người
sống đời phóng dật
"Ai
sống trong đời này,
"Ai
sống trong đời này
"Chẳng
phải chỉ giới cấm
|