| MỤC LỤC |
Pháp Môn KHÔNG-PHẢI-NGĂ (Nguyên tác: The Not-self Strategy, của Tỳ Khưu Thanissaro, Việt dịch: TN. Chân Giải Nghiêm) |
Trở Về Trang Chủ | ||
|
Giáo Lư Vô Thường Không Có Ngă Hay Không Phải Ngă Pháp Môn Không Phải Ngă Gốc rễ của Chủ Nghĩa Lăng Mạn Phật Giáo Phật giáo và vấn đề trầm cảm, cai nghiện, từ bỏ thói xấu, huân tập tính tốt. |
(Có thể tùy nghi in lại để dùng cho cá nhân hay phổ biến miễn phí. Ngoài ra, tác giả giữ bản quyền.) Các sách vở Đạo Bụt thường tŕnh bày rằng giáo lư siêu h́nh căn bản nhất của đạo Bụt là không có linh hồn hay không có Ngă. Tuy nhiên, tham cứu một ṿng các Kinh điển trong tạng Pali – văn kiện xưa nhất ghi lại lời dạy của Bụt – lại đưa ta đến giả thiết Bụt dạy giáo lư Anatta hay thuyết ‘Không Phải Ngă,’ không phải như một xác nhận siêu h́nh, mà như là một biện pháp nhắm đến giải thoát khổ đau. Nếu dùng khái niệm ‘không phải là tôi’ để vô hiệu hoá sự đồng nhất ḿnh với bất cứ hiện tượng nào, người ta sẽ vượt ra ngoài ṿng của mọi khổ đau và ràng buộc. Và ‘cái vượt ra ngoài ṿng khổ đau & ràng buộc’ ấy -- Kinh Tạng nói rằng -- tuy có thể chứng nghiệm, nhưng lại nằm ngoài phạm vi của sự diễn tả, và do đó cả ư niệm ‘Ngă’ lẫn ‘không phải Ngă’ đều không thể áp dụng. Bằng chứng cho cách giải thích này tập trung quanh bốn điểm: 1/ Đoạn Kinh khi Bụt được yêu cầu xác định lập trường trong câu hỏi mang tính bản thể học ‘Có hay Không có Ngă’, Ngài đă từ chối trả lời. 2/ Những đoạn Kinh khẳng định tuyệt đối rằng không có ngă chỉ ứng trong phạm vi những thực tại có thể diễn tả được, chứ không bao gồm hết thảy thực tại có thể chứng nghiệm được. 3/ Quan niệm không-có-ngă được xếp cùng với quan niệm có-ngă như những ‘quan niệm gông cùm’ (‘Kiến Phược’) mà một người hướng đến giải thoát khổ đau phải hết sức tránh. 4/ Người đă đạt được mục đích giải thoát nh́n thực tại mà tâm không c̣n bị khống chế bởi bất cứ một ư niệm nào, kể cả những ư niệm căn bản như Ngă & Vô Ngă, đúng & Sai. Tiếp theo đây là những đoạn Kinh liên hệ, chọn lọc từ tạng Pali. Những đoạn Kinh này được dẫn với lời cảnh báo trước rằng: nói cho đến tận cùng th́ không thể chứng minh xác quyết một điều ǵ bằng sự trích dẫn văn kiện. Các học giả đă nêu ra những lư lẽ để ngờ vực hầu như toàn bộ Kinh Tạng – qua việc đưa ra cách dịch mới cho những từ ngữ cốt lơi, hay đặt vấn đề về tính trung thực của hầu hết các đoạn Kinh. Và v́ vậy, cách kiểm chứng đúng nhất cho bất kỳ một lối diễn dịch nào là thực hành theo và xem nó dẫn ḿnh đến đâu trong chiều hướng giải thoát. ******* 1. So sánh hai cuộc đối thoại sau đây: Sau khi ngồi qua một bên, lăng tử Vacchagotta hỏi bậc đạo Sư: 'Vậy, Sa Môn Gotama, có ngă không?' Khi được hỏi như vậy, bậc Đạo Sư im lặng. _ Vậy th́ không có Ngă? Lần thứ hai, bậc Đạo Sư im lặng. Lăng tử Vacchagotta bèn đứng dậy bỏ đi. Sau khi lăng tử Vacchagotta bỏ đi không bao lâu, tôn giả Ananda hỏi bậc Đạo Sư: Thế Tôn, v́ sao Thầy không trả lời câu hỏi của lăng tử Vacchagotta?' _ Ananda, nếu ta, được lăng tử Vacchagotta hỏi có ngă hay không, mà trả lời là có ngă th́ đồng với các ngoại đạo chủ trương thuyết Thường (cho rằng có một linh hồn bất diệt.) Và nếu ta ... trả lời là không có ngă th́ đồng với các ngoại đạo chủ trương thuyết Đoạn (cho rằng sau khi chết th́ không c̣n ǵ nữa.) Nếu ta ... trả lời rằng có ngă, th́ đó có phù hợp với kiến giải[1] tất cả mọi hiện tượng đều không phải Ngă hay không? _ Bạch Thế Tôn, không. _ Và nếu ta ... trả lời rằng không có Ngă, th́ kẻ hoang mang Vacchagotta sẽ càng hoang mang hơn: ‘Cái Ngă mà ta thường có, bây giờ lại không có sao?’ ------ S XLIV.10
Mogharaja: _ Nh́n đời như thế nào để thần Chết không thấy? Bụt đáp: Ngă kiến đă đoạn trừ; Luôn chánh niệm tỉnh giác, Này Mogharaja, Nh́n đời như không huyễn. Đó đường vượt thoát Tử. Nh́n cuộc đời như vậy Thần Chết không thấy được. --- Sn v.16
Đoạn Kinh đầu là một trong những đoạn Kinh được bàn căi nhiều nhất. Những người cho rằng Bụt có thái độ xác định (Có hoặc Không) đối với câu hỏi có ngă hay không phải giải thích sự im lặng của Bụt, và họ thường tập trung vào câu nói chót của Bụt với Ananda. Họ nói: nếu người hỏi là một người có tŕnh độ tâm linh trưởng thành chín chắn hơn Vacchagotta, th́ Bụt sẽ xác định lập trường của ḿnh. Nhưng, cách diễn dịch này đă bỏ qua hai câu nói đầu tiên của Bụt với Ananda: Bất kỳ ai là người hỏi, trả lời Có hay Không Có Ngă đều sẽ rơi vào hai triết thuyết (biên kiến) mà Bụt luôn tránh trong suốt cuộc đời giáo hoá của Ngài. Trong câu nói thứ ba, Bụt quan tâm đến việc tránh mâu thuẫn với ‘kiến giải tất cả mọi hiện tượng đều không-phải-Ngă’, không phải v́ Ngài cho rằng tự thân kiến giải này là một chân lư siêu h́nh, mà v́ Ngài thấy rằng sự phát khởi kiến giải này có thể dẫn đến giải thoát. (Chúng ta sẽ xem thêm nội dung của kiến giải này ở điểm 2.) Điểm vừa nêu được xác minh khi ta đem so với đoạn Kinh thứ hai. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai cuộc đối thoại nằm ở những câu hỏi. Trong cuộc đối thoại thứ nhất, Vacchagotta xin Bụt xác quyết có hay không có Ngă, và Bụt im lặng. Trong cuộc đối thoại thứ hai, Mogharaja hỏi cách nh́n cuộc đời để có thể vượt ngoài tầm cái Chết, và Bụt trả lời, Ngài dạy nh́n cuộc đời mà không dính đến một ư niệm nào về Ngă. Điều này làm gợi ra giả thiết: giáo lư không-phải-ngă (Vô Ngă/Phi Ngă), thay v́ là một khẳng định rằng không có ngă, lại là một kỹ thuật nhận thức để đưa đến vượt thoát sinh tử, đạt được Niết Bàn, – đây là một cách nhận thức sự vật vắng bóng sự tự đồng nhất, vắng bóng cảm giác ‘là tôi, có tôi’, và không có sự ái luyến đối với cái ‘tôi’ và cái ‘của tôi’ xen vào. Do đó, có lẽ trung thực hơn cả là đánh giá cuộc đàm thoại thứ nhất theo nghĩa đen của nó, và nói rằng câu hỏi có hay không có Ngă là câu hỏi mà Bụt không trả lời, không xác nhận có hay không, dù người đối thoại là một người rối loạn tinh thần như Vacchagotta hay một người ưu tú như Ananda. Với Bụt, giáo lư ‘không-phải-Ngă’ (not-self) là một kỹ thuật hay một pháp môn hướng đến giải thoát, và không phải là một lập trường về siêu h́nh (metaphysical) hay bản thể (ontological.) *******
2. Những đoạn Kinh sau đây, thường được trích dẫn chung như những chứng cớ hùng hồn nhất rằng Bụt phủ nhận sự tồn tại của một cái Ngă dựa vào những từ ngữ không cố định (lỏng lẻo) nhất. Dù sao, hăy lưu ư xem các từ ‘thế giới’ và ‘toàn thể’ được định nghĩa như thế nào. Ananda: Bạch Thế Tôn, nói rằng thế giới là trống rỗng, thế giới là không. Về phương diện nào mà nói rằng thế giới là không, là trống rỗng? Bụt đáp: V́ trống rỗng, không có Ngă hay cái gắn liền với Ngă (ngă sở.) Do đó nói rằng thế giới là không, là trống rỗng. Những ǵ là trống không, không có Ngă hay Ngă Sở? Con mắt trống một cái Ngă hay một cái ǵ gắn liền với Ngă. Sắc ... nhăn thức ... nhăn xúc (sự tiếp xúc giữa nhăn căn và sắc trần) trống một cái ngă hay một cái ǵ gắn liền với ngă. Tai ...Mũi ...Lưỡi ...Thân ... Trí năng (ư căn) không có ngă hay một cái ǵ gắn liền với Ngă. ư niệm (pháp) ... ư thức ... ư xúc (sự tiếp xúc giữa ư căn và pháp trần) không có ngă hay một cái ǵ gắn liền với ngă. V́ vậy nói rằng thế giới là không, là trống rỗng. S.xxxv.85
Cái ǵ là Toàn Thể? Mắt & h́nh sắc, tai & âm thanh, mũi & mùi hương, lưỡi & vị nếm, thân & xúc chạm, ư & pháp trần. Này các t́ khưu, đó gọi là Toàn Thể. Người nào nói rằng ‘bỏ cái Toàn Thể này, tôi sẽ diễn tả một cái khác’, nếu bị hỏi căn cứ vào cái ǵ mà nói như vậy, người đó sẽ không giải thích được, và phải chịu thất bại. V́ sao? V́ v́ cái đó nằm ngoài phạm trù. S.xxxv.23
Nếu sáu căn và sáu trần -- có khi được gọi là sáu phạm trù của xúc (lục xứ, lục nhập) -- thiết lập thế giới hay cái Toàn Thể, vậy th́ có cái ǵ vượt ra ngoài sáu phạm trù này không? MahaKotthita: Với sự dừng & tắt hẳn của sáu xứ (thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và tư lượng), có phải là c̣n có cái ǵ khác không? Sariputta: Này hiền hữu, đừng nói như vậy. MahaKotthita: Với sự dừng & tắt hẳn của sáu xứ, có phải là không c̣n ǵ nữa? Sariputta: Này hiền hữu, đừng nói như vậy. MahaKotthita: ..., có phải là vừa c̣n vừa không c̣n không? Sariputta: Này hiền hữu, đừng nói như vậy. MahaKotthita: ..., có phải là vừa không phải c̣n vừa không phải không c̣n? Sariputta: Này hiền hữu, đừng nói như vậy. MahaKotthita: Hỏi ... c̣n có cái ǵ khác không, thầy nói 'Này hiền hữu, đừng nói như vậy.' Hỏi ... có phải không c̣n ǵ nữa, ... có phải vừa c̣n vừa không c̣n, ... có phải vừa không c̣n vừa không không c̣n, thầy (đều) nói: 'Này hiền hữu, đừng nói như vậy.' Vậy, phải hiểu lời nói đó như thế nào? Sariputta: Nói ... c̣n cái ǵ khác, ... không c̣n cái ǵ khác, ... vừa c̣n vừa không c̣n, ... vừa không c̣n vừa không không c̣n, là phân biệt cái không (thể) phân biệt. Ở đâu có sáu phạm trù của xúc, ở đó có phân biệt. Ở đâu có phân biệt, ở đó có sáu phạm trù của xúc. Cùng với sự dừng tắt hẳn, không c̣n ǵ sót lại (tận diệt) của sáu phạm trù của xúc là sự dừng lại, giảm đoạn của phân biệt. A.iv.173
B́nh diện của Vô phân biệt giới, tuy không thể diễn tả được, vẫn có thể trực tiếp chứng nghiệm. Này các t́ khưu, giới xứ đó được chứng nghiệm nơi mà mắt (tầm nh́n) dừng lại và sắc tưởng (chú giải của tâm ư) phai nhạt. Giới xứ đó được chứng nghiệm nơi mà tai dừng lại và thanh tưởng phai nhạt, ... nơi mà mũi dừng lại và hương tưởng phai nhạt, ... nơi lưỡi dừng lại và vị tưởng phai nhạt, ... nơi mà thân dừng lại và xúc tưởng phai nhạt, ... nơi ư dừng lại và tư tưởng phai nhạt: Giới xứ đó cần phải được chứng nghiệm. S.xxxv.116 Mặc dầu đoạn Kinh chót chỉ ra rằng có một giới xứ vượt ra ngoài sáu xúc giới, có thể chứng nghiệm được, giới xứ ấy cũng không nên bị xem là một ‘cái ngă cao hơn’. Điểm này đă được nhắc đến trong Đại Kinh Nhân Duyên, trong đó Bụt phân các chủ thuyết về Ngă ra làm bốn loại chính, những chủ thuyết diễn tả cái Ngă như là: (a) có h́nh sắc (thân) và có giới hạn; (b) có sắc & không giới hạn; (c) không h́nh sắc & giới hạn; và (d) không h́nh sắc & không giới hạn. Kinh không đưa ví dụ cho từng loại, nhưng chúng ta có thể cử ra vài thuyết sau đây để minh hoạ: (a) thuyết phủ nhận linh hồn, và đồng nhất Ngă với thân; (b) thuyết đồng nhất Ngă với mọi loài hay với vũ trụ;(c) thuyết các linh hồn là cá thể, riêng biệt; (d) thuyết một linh hồn nhất thể hay tính đồng nhất nội tại nơi tất cả mọi sự vật. Một đoạn Kinh khác thường được dẫn với ư Bụt dạy rằng không có Ngă là bài kệ sau đây trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada), đặc biệt đoạn kệ thứ ba, trong đó từ Pháp nhằm chỉ cho các sự vật hữu vi & vô vi (do & không do nhân duyên hợp thành.) Nhưng, xin hăy lưu ư, điều mà toàn bài kệ muốn nói là: những tuệ giác này là một phần của con đường (Đạo), và không phải là cứu cánh. ‘Chư hạnh đều vô thường’ Thấy điều ấy cho minh Bèn yểm ly với khổ, Đó đường đến thanh tịnh.
‘Chư hạnh đều là khổ’ Thấy điều ấy cho minh Bèn yểm ly với khổ, Đó đường đến thanh tịnh.
‘Chư Pháp không phải Ngă’ (đều Phi Ngă) Thấy điều ấy cho minh Bèn yểm ly với khổ Đó đường đến thanh tịnh. Dhp 277-79
Chúng ta sẽ thấy trong đoạn Kinh dưới đây, Bụt nói hành giả đạt đến giác ngộ do thấy được những giới hạn của các pháp hữu vi, thấy được cái vượt lên trên chúng, và không nắm chấp cái nào cả. Trong bài kệ kế tiếp, người đặt câu hỏi nhắc đến cứu cánh như là một pháp, trong khi đó, Bụt lại tŕnh bày cứu cánh như là sự cắt bỏ, chấm dứt tất cả mọi pháp – và do vậy, cứu cánh vượt lên trên ‘mọi pháp’ và bất kỳ một diễn đạt nào. Một khi hành giả đă thành tựu cứu cánh th́, đến đây, không một ngôn từ nào -- hữu, vô, ngă, phi-ngă - có thể áp dụng được.
Upasiva: Người đă đến bến rồi: Th́ không hiện hữu nữa, hay vïnh viễn thoát phiền? Bậc trí rơ pháp này Xin v́ tôi chỉ dạy. Bụt: Với người đă đến bến Không một tiêu chuẩn nào Có thể dùng nói rằng: -- người đó không hiện hữu. Khi mọi pháp đă diệt Ngôn ngữ thảy diệt theo. Sn.v.6 ******* 3. Mặc dầu khái niệm 'không phải Ngă' (Phi Ngă/vô ngă) là một phương tiện giúp người ta tự tháo gỡ khỏi những tham đắm & bám víu dẫn đến khổ đau, nhưng quan niệm không có ngă lại là một trong những quan niệm về siêu h́nh hay bản thể trói buộc người ta vào khổ đau. Có trường hợp một người phàm phu, không được hướng dẫn ... không phân biện được ư tưởng nào là đáng quan tâm, ư tưởng nào là không đáng quan tâm. Do vậy, người đó không để tâm đến những ư tưởng đáng quan tâm, và (thay vào đó) chú trọng vào những ư tưởng không đáng quan tâm... Người ấy bận tâm một cách không thích đáng như vầy: ‘Trong quá khứ tôi đă hiện hữu? Trong quá khứ tôi đă không hiện hữu? Trong quá khứ tôi đă là ǵ? Trong quá khứ tôi đă như thế nào? Đang là một cái ǵ bây giờ, vậy tôi đă là ǵ trong quá khứ? Trong tương lai tôi sẽ hiên hữu? Trong tương lai tôi sẽ không hiện hữu? Trong tương lai tôi sẽ trở thành ǵ? Trong tương lai tôi sẽ như thế nào? Đang là một cái ǵ bây giờ, vậy tôi sẽ là ǵ trong tương lai?’ Hoặc người ấy hoang mang về chính hiện tại: ‘Tôi đang hiện hữu? Tôi không hiện hữu? Tôi là cái ǵ? Tôi như thế nào? Sự hiện hữu này từ đâu tới? Sự hiện hữu này đi về đâu?’ Bận tâm một cách không thích đáng như vậy, một trong sáu quan niệm(Kiến) này khởi lên nơi người ấy: - Quan niệm ‘tôi có Ngă’ -- người ấy khởi lên quan niệm này, cho đó là chân lư chắc chắn. - hoặc quan niệm ‘tôi không có Ngă’... - hoặc quan niệm ‘Chính là v́ có Ngă mà tôi nhận thức được Ngă’ ... - hoặc quan niệm ‘Chính là v́ có Ngă mà tôi nhận thức được phi Ngă’ ... - hoặc quan niệm ‘Chính là v́ phi ngă mà tôi nhận thức được Ngă’ ... - hoặc người ấy quan niệm rằng : ‘Cái Ngă này của tôi -- chủ thể đang cảm nhận những nghiệp quả tốt & xấu -- là cái Ngă của tôi, thường, hằng, vĩnh cửu, không thay đổi, và sẽ tồn tại măi măi.’ Đó gọi là rừng rậm của kiến, sa mạc của kiến, sự cong quẹo của kiến, sự quằn quại của kiến, cùm xích của kiến (kiến phược.) Ràng buộc bởi những kiến phược này, người thiếu trí, không được dạy dỗ sẽ không thoát khỏi sinh, già & chết, không tránh khỏi buồn rầu, than khóc, đau đớn, sầu khổ & tuyệt vọng. Ta nói người đó không thoát khỏi khổ. Người đệ tử ưu tú, được dạy dỗ kỹ... phân biệt được ư tưởng nào là đáng quan tâm, và ư tưởng nào là không đáng quan tâm. Và như vậy, người đó không để tâm đến những ư tưởng không đáng quan tâm, và (thay vào đó) chú trọng vào những ư tưởng đáng quan tâm... Người ấy để tâm một cách thích đáng: ‘Đây là khổ ... Đây là nguồn gốc của khổ ... Đây là sự chấm dứt của khổ ... Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ.’ Chú tâm một cách thích đáng như vậy, người ấy dứt bỏ được ba xiềng xích: Ngă Kiến, nghi, và sự cố chấp vào giới & pháp môn [2]. ---- M2 ******* 4. Như vậy, mặc dầu trên đường đi hành giả phải sử dụng Chính Kiến, nhưng khi đạt đến cứu cánh giải thoát, người ấy vượt qua mọi quan niệm (kiến.) Với người đă đạt đến cứu cánh, kinh nghiệm xảy ra mà không có ‘chủ thể’ hay ‘đối tượng’ chồng chất thêm vào, không có sự phân giải kinh nghiệm (năng tri) hoặc cái được kinh nghiệm (sở tri.) Chỉ kinh nghiệm, đơn thuần trong tự thân nó.
Này các t́ khưu, trong vũ trụ -- với các chúng thiên, ma & Phạm, các ḍng Sa Môn & Phạm Chí, quư tộc & thường dân ở đó -- bất cứ cái ǵ được thấy, được nghe, được ngửi, được nhận biết, được đạt tới, được theo đuổi, được cân nhắc bởi ư căn: Tôi đều biết rơ. Trong cơi này… bất cứ cái ǵ được thấy, được nghe, được ngửi, được nhận biết, được đạt tới, được theo đuổi, được cân nhắc bởi ư căn: Tôi đều trực tiếp biết (chánh tri.) Cái ấy được biết bởi Như Lai, nhưng Như Lai không bị đắm nhiễm bởi nó… Do vậy, này các t́ khưu, Như Lai, khi nh́n cái có thể nh́n, không phân lập (đây là) cái bị thấy. Như Lai không phân lập cái không-bị-thấy. Như Lai không phân lập (đây là) cái để-thấy. Như Lai không phân lập người thấy. Khi nghe ... Khi ngửi ... Khi nhận biết, Như Lai không phân lập (đây là) cái bị nhận biết. Như Lai không phân lập ra cái không-bị-biết. Như Lai không phân lập (đây là) cái để-nhận-biết. Như Lai không phân lập người nhận biết. Do vậy, này các t́ khưu, Như Lai là “Như” – như như đối với tất cả mọi hiện tượng có thể thấy, nghe, ngửi, & nhận thức. Tôi nói: Không có cái “Như” nào cao hơn hay tối thắng hơn.
Cái bị thấy, nghe, ngửi, bị người chấp là thật; Giữa những người tự buộc, Như Lai không chấp giữ đó là thị hay phi. Đă sớm thấy mũi tên nơi mà bao nhiêu đời bị đính và ghim chặt -- ‘Tôi biết, và tôi thấy, Nó chính là như vậy!’ – Nơi tự thân Như Lai không có ǵ bị buộc. -- A iv.24
Một quan niệm chỉ đúng hay sai khi người ta xét nó đúng đắn đến đâu so với một tiêu chuẩn nào đó. Nếu chỉ xem đó đơn thuần là một lời nói, một sự việc như tự thân nó, th́ đúng và sai không c̣n áp dụng được. Như vậy, với Như Lai, người không c̣n gán các ư niệm chủ thể hay đối tượng vào kinh nghiệm, chỉ xem h́nh sắc, âm thanh, cảm thọ & tư tưởng hoàn toàn như chính tự thân chúng, th́ các quan niệm không c̣n là đúng hay sai, mà chỉ là những hiện tượng để cảm nghiệm. Không có ư niệm chủ thể nên không có chỗ đứng cho ‘Tôi biết, tôi thấy’, không có ư niệm đối tượng nên không có chỗ đứng cho ‘Nó chính là như vậy!’ Các ư niệm (Kiến) về đúng - sai, Ngă - Không Có Ngă (hữu - vô), v.v., mất hết quyền năng nắm giữ của chúng, và tâm được trả về với Chân Như: không bị động chạm, hay ảnh hưởng bởi bất cứ ǵ.
Những ǵ nương vào đó thấy người khác thua ḿnh cũng tức là cùm xích, theo lời bậc trí tuệ. --- Sn iv.5
Ai lập ‘bằng, hơn, thua’ sẽ phân tranh v́ chúng. Với người không chấp nhiễm đối với ba điều trên, ‘bằng’, ‘hơn’ không xuất hiện.
Căn cứ vào điều ǵ để Bà La Môn (A La Hán) bảo là ‘đúng’ hay là ‘sai’, Tranh chấp cùng với ai khi tự thân vị ấy chẳng khởi ‘hơn’, ‘kém’, ‘bằng.
Như loài sen có gai không vấy bởi bùn nhơ, Bậc trí giả b́nh an, vô tham, không cấu nhiễm bởi dục và thế giới.
Bậc đă đắc trí tuệ th́ không thể đo lường hoặc làm cho hănh diện bởi Kiến hay tư tưởng, v́ người ấy không c̣n bị lung lay bởi chúng. Vị ấy không bị dẫn bởi lễ nghi, tập tục hay trích dẫn giáo điều.
Với người không bị cuốn (thản nhiên) đối với tưởng th́ không có trói buộc; Với người đă giải thoát nhờ thấy được rơ ràng, th́ không c̣n ảo tưởng. Những ai c̣n nắm bắt vào kiến và vào tưởng th́ vẫn c̣n loay hoay tranh chấp trong thế giới. --- Sn iv.9
_ “Sa Môn Gotama có ‘chỗ trụ’ ( lập trường) nào không?” “Vaccha, ‘chỗ trụ’ (lập trường) là cái Như Lai đă diệt bỏ rồi. Điều mà Như Lai thấy là: “Sắc là như vậy, sự sinh khởi của sắc là như vậy, sự tan biến của sắc là như vậy; thọ là như vậy, sự sinh khởi của thọ là như vậy, sự tan biến của thọ là như vậy; tưởng là như vậy…; ư hành là như vậy…; thức là như vậy, sự sinh khởi của thức là như vậy, sự tan biến của thức là như vậy.” Chính v́ vậy, ta nói rằng, -- với sự giảm, đoạn, dừng lại, xả & ly đối với mọi chia chẽ, mọi toan tính, mọi ngă kiến & ngă sở kiến & ngă ái – Như Lai được giải thoát, do không c̣n sự bám víu/thức ăn (cho triền phược.) ----- M 72
Này các t́ khưu, cái này, Như Lai biết rơ. Và, Như Lai biết rơ những chỗ đứng này, nếu bám chấp, sẽ đưa đến những nẻo về như vậy, những hoàn cảnh như vậy ở đời sau. Và Như Lai biết rơ cái vượt thắng lên cái này. Dù nhận biết cái đó, Như Lai không nắm chấp. Và v́ không nắm chấp, sự giải thoát (nibbutti) ngay đó được thể nghiệm. Biết thật về chúng, sự sinh khởi, sự chấm dứt, những cám dỗ & chướng ngại của cảm thọ, cùng sự giải phóng khỏi cảm thọ, Như Lai được giải thoát, này các t́ khưu, do không c̣n sự bám víu/thức ăn (cho triền phược.) ---- D 1
Cho dù bốn luận điểm trên có phải là lời dạy của Bụt hay không, điều quan trọng phải nhớ là mục tiêu cơ bản của Bụt khi tŕnh bày giáo lư không-phải-ngă (Vô Ngă) trước nhất là: để những ai áp dụng giáo lư này có thể đạt được giải thoát khỏi mọi khổ đau & bức chế.
- “Này các t́ khưu, các thầy có thấy có sự bám víu/thức ăn nào dưới dạng ngă thuyết mà khi bám víu vào đó lại không sinh ra buồn, đau, than khóc, tiếc thương & tuyệt vọng hay không? - “Bạch Thế Tôn không.” - “… Ta cũng vậy…Này các t́ khưu, các thầy nghĩ sao: Nếu có ai gom, đốt, hay tùy ư làm ǵ đó với cỏ, lá, nhánh cây trong vườn Kỳ Đà này, th́ ư tưởng’Chính ḿnh là cái người ấy đang gom, đốt, hay tùy ư làm ǵ đó’ có khởi lên nơi quư thầy không? - “Bạch Thế Tôn không. V́ sao vậy? V́ những cái kia không phải là Ngă, cũng không gắn liền với Ngă.” - “Chính như vậy, này các t́ khưu, cái ǵ không phải của ḿnh: Hăy buông nó ra. Buông nó ra để được lợi lạc lâu dài. Cái ǵ không phải là của ḿnh? Sắc không phải là của ḿnh… Thọ không phải là của ḿnh… Tưởng…Hành…Thức không phải là của ḿnh. Hăy buông nó ra. Buông nó ra để được lợi lạc lâu dài.” --- M 22
Sariputta: Này các bạn, có t́ khưu, đi đến nước khác, được những vị đa văn trong giới quư tộc & giáo sĩ, xuất gia & tại gia chất vấn: “Giáo lư của thầy ông là ǵ? Thầy ông dạy điều ǵ?” Nếu được hỏi như vậy, các bạn nên trả lời rằng: “Thầy tôi dạy điều phục đam mê & mong cầu.” - “... đam mê & mong cầu ǵ?” - “... đam mê & mong cầu sắc, thọ, tưởng, hành, & thức.” - “... v́ trông thấy những nguy hiểm (hay bất lợi) nào mà thầy ông dạy điều phục đam mê & mong cầu đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức?” - “... khi một người không có tự do đối với những đam mê, mong cầu, ưu ái, khát khao, nhiệt năo & thèm muốn đối với h́nh sắc, v.v..., th́ từ bất cứ một thay đổi & biến dịch nào nơi h́nh sắc đó, v.v..., buồn, đau, than khóc, tiếc thương & tuyệt vọng cũng khởi sinh ra.” - “... và do thấy được ích lợi ǵ mà thầy ông dạy sự điều phục đam mê & mong cầu đối với h́nh sắc, v.v...?” - “... Khi một người có tự do đối với đam mê & mong cầu, ưu ái, khát khao, nhiệt năo & thèm muốn đối với h́nh sắc, v.v..., th́ từ bất cứ một thay đổi & biến dịch nào nơi h́nh sắc đó, v.v..., buồn, đau, than khóc, tiếc thương & tuyệt vọng cũng đều không khởi sinh ra.” --- S xxii.2
Từ trước đến nay, Anuradha, ta chỉ tŕnh bày về Khổ và sự dừng lại Khổ. --- S xxii.86
('The Not-self Strategy' -- Bản quyền 1993, Thanissaro Bhikkhu. Nguồn www.accesstoinsight.org version 1993. Có thể sao, in, phổ biến bất kỳ ở đâu. Tuy nhiên, sự phổ biến phải hoàn toàn miễn phí, theo nguyện vọng của tác giả, các bản dịch và trích dẫn cũng phải được ghi rơ như vậy.) (Việt dịch: TN Chân Giải Nghiêm (tu chỉnh May, 2007)) (Xin xem thêm 'Không Có Ngă hay Không-Phải-Ngă') |
"Mùa mưa
ta ở đây
"Người
tâm ư đắm say
"Một khi
tử thần đến,
"Biết
rơ ư nghĩa này,
(Pháp Cú 286-289) |