Pháp Luận

THIỀN TẬP
Bốn mười bài Pháp Thoại của Bhikkhu Thanissaro
Bản quyền 2003, Thanissaro Bhikkhu -- Việt dịch: TN Chân Giải Nghiêm
(In, chép để biếu không th́ không cần xin phép; ngoài ra tác giả giữ trọn bản quyền.)

Trở Về Trang Chủ

THIỀN TẬP 1

Mục Lục



H́nh Dung

tháng 4, 2003

Các nhà tâm lư học đă làm các cuộc nghiên cứu về những người đă đạt đến chỗ điêu luyện trong tay nghề, t́m hiểu tại sao có người chỉ đơn giản rất giỏi trong một kỹ năng nào đó trong khi người khác lại thật sự đạt đến mức điêu luyện. Một trong những khám phá của họ là với những người thật sự đạt đến bậc điêu luyện, kỹ thuật ấy phải thu hút trí tưởng tưởng của họ. Họ thích nghĩ về nó. Họ thích t́m nhiều cách khác nhau để khái niệm kỹ thuật ấy, đến với kỹ thuật ấy, áp dụng kỹ thuật ấy trong nhiều cách khác lạ và bất ngờ. Và mặc dầu chúng ta thường không nghĩ trí tưởng tượng lại có dính dáng ǵ trong thiền tập -- thậm chí, chúng ta nghĩ thiền là chống với tưởng tượng – nhưng trên thực tế điều này không đúng. Để thuần thục nghệ thuật tập trung (Định), nghệ thuật này phải thu hút sức tưởng tưởng của ta, cũng giống như với bất cứ một kỹ thuật nào khác.

Khi ta tập Định, ta đang làm chuyện ǵ? Ta đang tạo ra một trạng thái trong tâm. Điều này đ̣i hỏi sự sáng tạo (imagination). Toàn bộ Bát Thánh Đạo là một cái ǵ được tạo tác, tập hợp lại. Nó mang ta vào hiện tại, nhưng khi ta bước vào hiện tại ta lại khám phá ra ḿnh đă dồn bao nhiêu là ư hướng vào từng giây từng phút của hiện tại. Sự tu tập Bát Thánh Đạo đă được đề ra để giúp ta càng lúc càng bén nhạy hơn với sự kiện: biết ḿnh lắp ghép sự việc như thế nào, làm sao ta có thể lắp ghép sự việc khiến nó gây ra đau khổ, hoặc làm sao ta có thể khéo léo hơn trong việc lắp ghép sự việc để càng lúc nó càng gây bớt khổ đau, cho đến khi ta đạt đến mức tất cả đều được tháo rời và khổ đau không c̣n nữa.

Nhưng để đạt đến mức cuối cùng này, ta cần phải hiểu những ǵ ḿnh đang làm. Ta không thể chỉ đơn giản quyết định rằng ḿnh sẽ hoàn toàn không bị lôi cuốn trong giây phút hiện tại và chỉ đơn thuần làm một kẻ quan sát, không tham dự góp phần, bởi trên thực tế sự tham dự góp phần của ta nằm ngấm ngầm bên dưới. Ta không thấy nó, nhưng nó vẫn c̣n đó. Vậy, thay vào thái độ này, ta phải rất cởi mở với sự kiện ta đang định h́nh cho giây phút hiện tại, đơn thuần bằng sự chọn lựa những ǵ ḿnh chú tâm vào. Đó là một quyết định tại chỗ: Những cảm thọ ta chọn chú tâm, cách ta chuyên chú vào chúng đều đang định h́nh kinh nghiệm của ta về giây phút hiện tại. Ta đang tạo ra một trạng thái trở thành (Hữu) -- từ Pali là bhava. Và, tuy quá tŕnh trở thành (Hữu) là một trong những điều ta đang t́m cách vượt qua, ta không thể đơn giản buông quá tŕnh ấy ngay lập tức được. Ta cần phải hiểu nó trước khi có thể bỏ được nó. Ta phải hiểu nó cho đến mức hết c̣n ham thích rồi buông ra. Để làm điều ấy, ta cần phải liên tục tạo thêm các trạng thái trở thành (Hữu) này, nhưng ta phải tạo ra loại trạng thái dễ an trú, dễ phân tích, dễ tháo rời – đó là v́ sao chúng ta tu Định.

Một vị sư thâm niên ở Bangkok có lần hỏi Ajaan Lee, ‘Trong khi thực tập định, phải chăng ta đang tạo ra những trạng thái Hữu (trở thành) trong tâm?’ Ajaan Lee đáp, ‘Đúng vậy, đó chính là điều chúng ta đang làm.’ Và thầy nói tiếp rằng ta không thể tháo gỡ quá tŕnh này cho đến khi ta có thể thực hiện nó một cách nhuần nhuyễn. Thầy nói, ‘Giống như có con gà đẻ trứng. Ta ăn một số trứng, số c̣n lại th́ đập vỡ và lột ra.’ Nói một cách khác, một phần vai tṛ của Định là nuôi dưỡng tâm trên đường đi. Phần c̣n lại cho ta một cái ǵ để tháo gỡ, đồng thời đặt tâm vào vị trí có thể tháo gỡ những trạng thái (Hữu) đang có mặt.

Khi ư thức điều này, ta hăy nh́n vào cách ḿnh kết tập nên giây phút hiện tại. Ḿnh có những chọn lựa mà ḿnh biết: những cái ḿnh có thể chú tâm, những cách ḿnh có thể chú tâm. Nếu ḿnh chuyên tâm vào hơi thở, ḿnh khám phá ra rằng có nhiều cách khác nhau để theo dơi và h́nh dung hơi thở: cách ḿnh gọi tên những cảm giác về hơi thở, cách ḿnh quyết định một hơi thở vào khi nào th́ đủ dài, khi nào th́ quá dài, khi nào th́ quá ngắn. Nhiều quyết định loại này được lèo lái một cách tự động, nhưng khi tập thiền, ḿnh có cơ hội để t́m hiểu chúng. Ḿnh có thể nh́n kỹ chúng, và điều chỉnh xem có cách nào hay hơn để quyết định chiều dài của một hơi thở vào, có những dấu hiệu nào cho biết hơi thở đă vừa đủ dài. Điều này cũng áp dụng với hơi thở ra, chiều sâu, nhịp điệu, và độ nhu nhuyến của hơi thở.

Trong lĩnh vực này, có nhiều thứ để ḿnh chơi với, và từ ‘chơi’ rất quan trọng v́ ḿnh cần nên thích thú với tiến tŕnh thiền tập. Bằng không ḿnh sẽ không sốt sắn trong việc hành thiền; ḿnh chỉ làm một cách máy móc bởi v́ đây là giờ ngồi thiền, vậy thôi. Mà khi không có sự sốt sắn, không có niềm vui th́ ḿnh khó mà bám sát tiến tŕnh thiền tập. Tâm sẽ nhàm chán, mất hứng và t́m một cái ǵ khác để suy nghĩ, để lấp kín giờ thiền. Rốt cuộc, ḿnh chỉ lấp kín thời gian bằng những chất nhồi độn – rơm, giấy vụn, hạt xốp (styrofoam) -- những thứ chẳng lợi lạc ǵ bao nhiêu so với việc t́m hiểu hơi thở. Lư do ḿnh có mặt ở đây - trong giờ thiền toạ - không phải chỉ để tuân hành giờ giấc. Ḿnh ở đây để t́m hiểu xem tâm ḿnh đang tạo ra những khổ đau không cần thiết cho nó như thế nào, và t́m cách để dừng lại.

Để giúp hiểu được tiến tŕnh này, ta có thể nh́n vào cách các nhà tâm lư học đă dùng để phân tích trí tưởng tượng. Họ khám phá ra rằng sự tưởng tượng có liên quan đến bốn kỹ năng. Thứ nhất là khả năng tạo ra một h́nh ảnh trong tâm – giản dị làm phát khởi một h́nh ảnh thuộc loại này hay loại kia. Thứ hai là duy tŕ h́nh ảnh ấy. Thứ ba là khảo sát h́nh ảnh, quan sát các chi tiết, thăm ḍ vài ngành ngọn của h́nh ảnh ấy. Và khả năng thứ tư là biến đổi h́nh ảnh, làm một số thay đổi và khảo sát lại để thấy chuyện ǵ xảy ra khi ḿnh biến đổi nó. Tuy các nhà tâm lư trị liệu phát hiện ra bốn kỹ năng này chỉ tập trung vào những h́nh ảnh trong tâm, nhưng ḿnh sẽ phát hiện ra rằng bất kỳ công việc sáng tạo nào - viết lách, làm nhạc hay bất cứ cái ǵ – cũng đều liên quan đến bốn bước này.

Khi đem đối chiếu bốn bước này vào việc tu định, ḿnh thấy chúng cũng được áp dụng. Kỳ thực, chúng tương ứng với bốn nền tảng của sự thành công (Tứ Như Ư Túc)[1]: mong muốn, kiên tŕ, nhiệt tâm, và khéo léo.

Trong tiến tŕnh tu định, bước đầu tiên tương ứng với việc làm phát khởi một trạng thái khoẻ khoắn dễ chịu ngay ở đây trong giây phút hiện tại. Ḿnh có thể làm điều đó không? Có thể, nếu ḿnh muốn. Bụt đă nói rằng mọi hiện tượng đều có gốc rễ từ dục (muốn.) Vậy ḿnh sẽ dùng cái muốn để làm phát khởi lên trạng thái dễ chịu ấy như thế nào? Ḿnh có thể điều chỉnh hơi thở. Ḿnh có thể điều chỉnh điểm chú tâm. Thở như thế nào để có thể làm phát khởi cảm thọ dễ chịu nơi ít nhất một phần cơ thể.

Một khi đă biết cách làm phát khởi lên trạng thái ấy, buớc thứ hai là duy tŕ, giữ cho trạng thái ấy được liên tục. Ḿnh sẽ t́m ra rằng để làm được việc này, ḿnh cần có chánh niệm, tỉnh giác, và sự vững vàng đều đặn. Đôi khi ḿnh thấy sự tu tập này cũng giống như việc lướt sóng: sóng đổi thay bên dưới, nhưng ta t́m cách giữ thăng bằng. Nghĩa là các nhu yếu của cơ thể sẽ thay đổi, nhưng ḿnh có thể duy tŕ cảm giác dễ chịu ấy, bất chấp những đổi thay này. Khi mới ngồi xuống, cơ thể có thể cần một nhịp thở hơi nặng mới cảm thấy thoải mái, nhưng khi đă thoải mái hơn rồi, nhu yếu của thân sẽ thay đổi. Và ḿnh cần phải học làm sao để lèo lái sự thay đổi đó giữa cơn sóng. Hăy điều chỉnh nhịp độ thở cho vừa vặn với thân thể ngay lúc này… ngay lúc này… ngay lúc này. Cứ như vậy, mỗi lúc ḿnh một nhạy hơn với sự thay đổi trong nhu yếu cơ thể, nhưng ḿnh có thể học duy tŕ một mức độ quân b́nh nào đó trong khi càng lúc càng trở nên nhạy bén trong việc đáp ứng các nhu yếu trên - trong khi điều chỉnh hơi thở lại theo nhu yếu thân thể. Lẽ đương nhiên, thân không ngồi đó nói ‘Tôi muốn thế này. Tôi muốn thế kia,’ nhưng ḿnh trở nên bén nhạy hơn với các dấu hiệu, các cảm giác báo cho ḿnh biết phần nào trong cơ thể đang đói khí, và ḿnh có thể thở một cách có ư thức vào chúng.

Bước thứ ba là khảo sát. Ḿnh nh́n vào t́nh trạng đang có mặt nơi thân thể: Có những chỗ nào vẫn c̣n chưa thoải mái, những chỗ nào vẫn c̣n đang căng thẳng, cứng gồng? Và ta có thể t́m cách thay đổi hơi thở. Đó là bước thứ tư. Bước thứ ba và thứ tư làm lộ ra nhược điểm của nhau: Sau khi thay đổi, ḿnh kiểm tra lại xem sự thay đổi ấy đă làm cho sự việc tiến bộ lên hay tệ hại đi. Nếu tệ hại đi, ḿnh lại thử làm một thay đổi khác. Tiếp tục kiểm tra, tiếp tục điều chỉnh. Tiến tŕnh này tiếng Pali gọi là vicara (từ/tư), hay tư lượng. Trong khi mọi sự mỗi lúc một trở nên thoải mái hơn, ḿnh nhận thấy phạm vi thoải mái do ḿnh tạo được cũng bắt đầu nới rộng ra. Ḿnh có thể thở vào ư thức năng lượng khí liền lạc khắp châu thân. Ḿnh thở ra và cảm thấy thông suốt; ư thức tỉnh giác của ḿnh liên tục thấm vào, tràn ngập khắp thân thể.

Đến một lúc, ḿnh đạt đến mức không c̣n cải thiện được ǵ thêm cho hơi thở nữa. Hơi thở như vậy là vừa vặn. Ajaan Fuang có lần ví điều này với việc rót nước vào b́nh. Cuối cùng ḿnh cũng đi đến mức đầy b́nh, sau đó, dù có đổ thêm bao nhiêu nước đi nữa, ḿnh cũng không thể nào làm cho b́nh đầy thêm được. Và v́ vậy, ḿnh ngừng đổ thêm nước. Với hơi thở cũng vậy: Khi đă đạt đến điểm đầy, ḿnh thôi không c̣n điều chỉnh hay thay đổi quá nhiều. Ḿnh chỉ cần ngồi chơi với hơi thở mà thôi. Từ điểm này trở đi, vấn đề chủ yếu là tâm quan hệ với hơi thở ra sao, tâm thấy ḿnh tách rời với hơi thở để quan sát hơi thở, hay thấy ḿnh gần như thẩm nhập vào hơi thở. Khi tâm thẩm nhập thêm vào hơi thở, nhịp thở sẽ thay đổi, không phải v́ ḿnh tác ư muốn thay đổi, mà đơn thuần v́ ḿnh đă thay đổi mối tương quan với hơi thở.

Khi tâm càng đi gần đến chỗ thâm nhập hoàn toàn với thân và hơi thở, trong ta phát sinh một cảm giác hợp nhất, khinh an, mỗi lúc một vững vàng, rơ rệt. Hơi thở mỗi lúc một trở nên vi tế hơn, và cuối cùng dừng lại hoàn toàn – không phải v́ ḿnh bảo nó dừng lại mà bởi v́ tâm đă chậm lại cho đến mức ḿnh càng lúc càng cần ít oxygen hơn. Sự trao đổi oxygen ở làn da cũng đủ duy tŕ cơ thể, do đó thân không cần phải liên tục bơm vào, bơm ra. Ajaan Lee so sánh trạng thái này với tảng nước đá đang bốc hơi: Thân ḿnh cảm thấy thật yên, nhưng quanh ŕa có một loại bốc hơi không cần nỗ lực mà ḿnh có thể cảm được qua hơi thở vào-ra. Rồi đến một lúc, sự thở này cũng ngừng, và tất cả hoàn toàn ngưng lặng.

Tất cả đều khởi đầu từ việc tạo một vùng dễ chịu nơi thân để có thể chuyên tâm vào đó. Rồi t́m cách duy tŕ nó. Rồi khảo sát xem ḿnh có thể nới rộng ở đâu, làm cho vững mạnh thêm chỗ nào. Và rồi điều chỉnh bằng nhiều cách khác nhau: dùng sức tưởng tưởng để nghĩ tới ít nhất là khả năng hơi thở có thể dễ chịu hơn, hơi thở có thể bảo hoà trong thân thể. Ḿnh có thể nghĩ tất cả các tế bào trong hơi thở đang được tắm ḿnh trong hơi thở -- hay bất cứ một cách h́nh dung nào có được về hơi thở, khiến cho hơi thở càng lúc càng trở nên dễ chịu, dễ dàng cho tâm an trú với.

Như vậy, bốn khía cạnh của trí tưởng tượng có thể áp dụng vào việc mà ḿnh đang làm ngay đây, mặc dầu ḿnh không hề t́m cách tạo ra một h́nh ảnh trong tâm. Đôi khi sẽ có những tâm ảnh nằm ở phía sau, nhưng ḿnh để ư nhiều hơn đến cảm giác thực sự của hơi thở trong khi ḿnh cảm được hơi thở đi vào đi ra, trong khi ḿnh chơi với hơi thở, trong khi ḿnh tạo ra một cảm giác cực kỳ an lạc ngay ở nơi này. Tuy cảm giác an lạc này chỉ là một sản phẩm của sự tạo tác, một ‘hành’, nhưng đó là một tạo tác, một hành có ích. Bụt nói chánh định là trái tim của sự tu hành, hay của đạo. Các yếu tố khác là vật liệu cần thiết để làm nên định. Để cho tuệ có thể toả sáng trong giây phút hiện tại, trái tim của đạo cần phải khoẻ và mạnh. Ḿnh cần phải tạo và duy tŕ một nền tảng vững chắc xuyên qua định.

Bởi v́ định là một trạng thái được tạo ra, ḿnh phải biết sáng tạo và tưởng tượng về nó. Ḿnh nhận ra rằng trí tưởng tượng càng mở ra cho các tiềm năng hiện có, th́ lại càng có thêm những tiềm năng mới để vươn ra. Miễn là ḿnh thẳng thắn về tiến tŕnh tu định này, nhận rằng ḿnh đang tạo ra trạng thái ấy, th́ ḿnh không phải lo ngại đến việc vướng mắc nó – dù ḿnh có thể vướng - bởi sâu tận bên trong, ḿnh biết rơ nó chỉ là một thứ do ḿnh tạo ra, rốt cùng, ḿnh cũng sẽ phải tháo gỡ. Trong lúc này, ḿnh hăy học tu định cho tốt. Định càng vững, ḿnh càng muốn an trụ. Càng an trụ, ḿnh lại càng quen thuộc với lĩnh vực này. Và nhờ sự quen thuộc đó, việc tu định sẽ trở thành tu tuệ, loại tuệ có thể giải phóng cho ḿnh. Không có sự vững chăi và quen thuộc này, tuệ giác của ḿnh sẽ chỉ là những ư niệm nghe được từ các bài Pháp Thoại hay đọc được từ trong sách, những khái niệm lượm lặt từ bên ngoài. Chúng không thấm sâu vào tâm được, v́ tâm chưa làm cho mềm dịu mảnh đất ở đây, trong giây phút hiện tại. Phải qua việc tu định sự khô cứng (của đất tâm) trong giây phút hiện tại mới có thể bắt đầu mềm dịu lại và các tuệ giác mới có được cơ hội thấm sâu hơn.

Khi có sự hiểu biết như vậy về việc ḿnh đang làm, ḿnh thấy dễ dàng xoay sở hơn. Và ḿnh bắt đầu nhận ra đây không phải là một tiến tŕnh máy móc. Đây là một tiến tŕnh sáng tạo. Do vậy, thiền tập có khả năng thu hút trí tưởng tượng của ḿnh. Khi thiền tập thu hút trí tưởng tượng của ḿnh, ḿnh bắt đầu để ư nhiều hơn đến những ǵ ḿnh có thể làm được với hơi thở, không phải chỉ trong lúc ngồi thiền nhắm mắt, mà bất cứ lúc nào trong ngày. Ḿnh quan hệ với hơi thở như thế nào, tập trung vào hơi thở có thể giúp ḿnh điều phục cơn giận ra sao. Ḿnh nhạy cảm hơn với tác động của cơn giận lên thân thể, và ḿnh có thể thở xuyên qua những biểu hiện vật lư của cơn giận để không bị chúng lôi đi.

Khi sợ, ḿnh có thể thử dùng hơi thở để điều phục cơn sợ. Tiếp xúc với khía cạnh vật lư của cơn sợ và thở xuyên qua đó. Để ư xem hơi thở có thể giúp ḿnh điều phục sự buồn chán như thế nào, đối phó với bệnh tật và đau nhức như thế nào. Có rất nhiều điều để khám phá. Và trong khi những tiềm năng của hơi thở thu hút trí tưởng tượng của ḿnh, ḿnh nhận ra rằng kỹ năng này rất hữu dụng, không phải chỉ trong lúc ngồi thiền nhắm mắt, mà ở bất cứ nơi nào hiện tại có mặt, bất cứ nơi nào ḿnh có mặt trong hiện tại. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, t́nh huống nào, ḿnh cũng thấy hơi thở luôn có một cái ǵ đó để đóng góp -- nếu ḿnh chịu thăm ḍ. Để thăm ḍ, ḿnh phải cảm thấy hơi thở thu hút được trí tưởng tượng của ḿnh. Hơi thở cho ḿnh thử thách đó, cùng với cảm giác tưởng thưởng khi đă thăm ḍ và khám phá ra được một cái ǵ mới mẻ, một kỹ năng quư giá.

Thiền tập có thể bắt đầu lan toả khắp đời sống ḿnh như vậy. Khi thiền thấm vào toàn bộ đời sống của ḿnh, ḿnh càng ngày càng quen thuộc với nó, đó là khi tuệ giác phát khởi: những tuệ giác đôi khi không chờ đợi, những tuệ giác nhiều khi không t́m thấy trong sách, nhưng lại rất riêng tư, rất phù hợp với cách ḿnh liên hệ với những hiện tượng xảy ra trong thân và trong tâm. Và ḿnh nhận ra rằng các tuệ giác đến với ḿnh, bởi v́ ḿnh đă đưa trí tưởng tượng hướng đến những tiềm năng có thể, với những chất liệu chưa chế biến của hiện tại.


 

[1] Tứ Như Ư Túc hay Tứ Thần Túc (iddhi-pàda; chữ pada cũng có nghĩa là bàn chân): chuyên ư, chuyên cần, chuyên tâm, chuyên thiện quán. Tứ như ư túc theo Bắc Tông là: dục như ư túc, cần như ư túc, tâm như ư túc, quán như ư túc.

Trang trước | Trang kế