| MỤC LỤC |
TIN VÀO TRÁI TIM Giáo lư về Samvega và Pasada (Nguyên tác: 'Affirming the Truths of the Heart - The Buddhist Teachings on Samvega & Pasada', của Tỳ Khưu Thanissaro, Việt dịch: TN. Chân Giải Nghiêm) |
Trở Về Trang Chủ | ||
|
Giáo Lư Vô Thường Không Có Ngă Hay Không Phải Ngă Gốc rễ của Chủ Nghĩa Lăng Mạn Phật Giáo Phật giáo và vấn đề trầm cảm, cai nghiện, từ bỏ thói xấu, huân tập tính tốt. Phật giáo và vấn đề thần linh, cầu nguyện, nghiệp, phước
|
(Xin chỉ phát không, không bán. Tác giả cho phép tùy nghi sử dụng với điều kiện các bản dịch và in lại để phổ biến phải ghi rơ là miễn phí, mở rộng cho mọi thành phần, ai cũng có thể thừa hưởng. Ngoài ra tác giả giữ bản quyền.) Một đạo Phật tin thuận cuộc đời, dạy ta t́m hạnh phúc bằng cách mở ḷng ra đón nhận hương hoa của đời sống hằng ngày. Đó là điều chúng ta muốn – hoặc được người ta bảo vậy khi rao giảng cho ḿnh một thứ đạo Phật thuận theo ḍng chảy cuộc đời. Nhưng đó có phải là điều ḿnh cần chăng? Và đó có phải là đạo Phật? Ta hăy chiêm nghiệm lại câu chuyện của Thái Tử Siddhartha và cuộc chạm mặt đầu tiên của Ngài với cái già, bệnh, chết, và với một sa môn du hành. Đây là một trong những đề tài gần gũi, thân thương nhất trong truyền thống Phật giáo, phần lớn bởi tính chất chân thành, thẳng thắn trong cảm xúc của vị hoàng tử trẻ. Chàng xem già, bệnh, chết như một đe doạ nghiệt ngă, và đă dồn tất cả hy vọng của ḿnh vào đời sống thiền định ở rừng, xem đó là lối thoát duy nhất. Như đại thi hào Phật giáo Mă Minh (Asvaghosa) vẽ lại câu chuyện, vị hoàng tử trẻ có không ít thân nhân, bạn bè t́m các thuyết phục chàng từ bỏ những tư tưởng ấy. Mă Minh đă rất khôn ngoan viện dẫn lời khuyên tin chịu cuộc đời của họ dưới một ánh sáng hết sức thuyết phục. Thế nhưng, thái tử nhận ra rằng nếu theo lời khuyên của họ, chàng sẽ phản bội trái tim ḿnh. Chỉ có chân thành với cảm xúc chân thật của ḿnh, chàng mới có thể dấn thân vào con đường ĺa xa những giá trị thường t́nh của xă hội, và hướng đến sự Giác Ngộ vô thượng đi vào Bất Diệt Vô Sinh. Đây khó có thể là một câu chuyện khẳng định (tín thuận) cuộc đời, nhưng nó khẳng định một điều khác quan trọng hơn cuộc đời: sự thật của trái tim khi trái tim khao khát một hạnh phúc tinh ṛng, tuyệt đối. Sức mạnh của ước nguyện này tùy thuộc vào hai xúc cảm mà tiếng Pali gọi là samvega và pasada. Rất ít người trong chúng ta được nghe tới chúng, nhưng chúng là những cảm xúc làm nền tảng ban đầu cho truyền thống của đức Phật. Hai cảm xúc này đă gây cảm hứng cho vị hoàng tử trẻ đi t́m sự Giác Ngộ, không những vậy, sau khi đă thành Phật, Ngài c̣n khuyên đệ tử của ḿnh mỗi ngày đều phải nuôi dưỡng và vun bồi chúng. Cách Ngài chăm sóc và đối xử với hai cảm xúc này thật đặc thù, cho đến nỗi ta có thể xem đó là một trong những đóng góp quan trọng nhất mà giáo lư đức Phật đă cống hiến cho văn hoá Mỹ hôm nay. Samvega là cảm xúc mà Thái Tử Siddhartha đă cảm nhận khi lần đầu tiếp xúc với già, bệnh, và chết. Đây là một từ khó dịch v́ nó bao hàm nhiều mức độ phức tạp của cảm xúc – ít nhất có ba tâm trạng trong cùng một lúc: cảm giác đè nặng do choáng sốc, vỡ mộng, và chán ngán khi nhận ra sự phù phiếm, vô nghĩa của đời sống mà người ta thường sống; cảm giác khiêm nhượng do nhận ra sự tự măn và khờ dại của ḿnh khi để cho ḿnh sống một cách mù quáng; cảm giác bồn chồn khắc khoải do ư thức tính cấp bách của việc t́m cách thoát ra khỏi cái ṿng quẩn quanh vô nghĩa này. Đây là tâm trạng chúng ta đều đă có lúc trải qua trong quá tŕnh trưởng thành, nhưng tôi không t́m được một từ nào trong ngôn ngữ chúng ta có thể gói ghém đầy đủ cả ba tâm trạng. Có một từ như vậy rất ích lợi, có lẽ chúng ta nên du nhập thẳng từ samvega vào trong ngôn ngữ của ḿnh. Không phải chỉ cung cấp một từ ích lợi, nhiều hơn thế, đạo Phật c̣n cống hiến một biện pháp hữu hiệu để đối phó với những cảm xúc đằng sau từ này - những cảm xúc mà văn hoá chúng ta cảm thấy sợ hăi, đe doạ và lúng túng không biết đối phó. Dĩ nhiên, không phải chỉ có văn hoá chúng ta mới bị đe doạ bởi cảm xúc samvega. Trong truyện của Siddhartha, phản ứng của vua cha trước khám phá của ông hoàng trẻ đại diện cho cách mà hầu hết các văn hoá dùng để đối phó với các t́nh cảm này: Nhà vua đă t́m cách thuyết phục thái tử rằng tiêu chuẩn hạnh phúc của thái tử là quá đáng, không thể nào với tới, đồng thời vua cũng t́m cách làm xao lăng tâm trí của thái tử bằng các liên hệ t́nh cảm, và đủ mọi thứ dục lạc trên đời. Nói đơn giản, biện pháp của vua là làm cho hoàng tử hạ thấp mục tiêu của ḿnh và t́m sự thoả măn nơi một hạnh phúc ít hơn là tuyệt đối, và không mấy ǵ tinh thuần. Nếu chàng hoàng tử trẻ sống ở Hoa Kỳ thời bây giờ, người cha sẽ có những phương tiện khác để đối phó với sự không thoả măn của chàng, nhưng biện pháp về bản chất vẫn giống hệt. Chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng người cha đưa chàng đến một cố vấn tôn giáo, người này sẽ dạy hoàng tử tin tưởng rằng những ǵ Thượng-đế tạo ra trên cơ bản đều tốt cả, và đừng chú trọng đến những khía cạnh của đời sống có thể gieo rắc nghi ngờ lên niềm tin ấy. Hoặc người cha đưa hoàng tử đến một nhà tâm lư trị liệu, người này sẽ đối xử với các xúc cảm samvega như chứng bệnh không có khả năng chấp nhận thực tại. Nếu các liệu pháp không có kết quả, nhà tâm lư trị liệu có thể sẽ kê đơn cho hoàng tử những loại thuốc có ma túy làm biến đổi tâm trạng để làm tê liệt cảm xúc này nơi chàng, khiến chàng có thể trở thành một thành viên hữu hiệu, dễ thích nghi của xă hội. Nếu người cha là người cấp tiến, ông có thể sẽ t́m một vị giáo thọ hay Pháp sư, người sẽ khuyên hoàng tử t́m hạnh phúc trong những niềm vui mầu nhiệm nho nhỏ của đời sống - một tách trà, một buổi đi bộ trong rừng, chủ nghĩa hoạt động xă hội, xoa dịu nỗi đau của người khác. Chàng sẽ được bảo chớ bao giờ bận tâm rằng các hạnh phúc kia sẽ bị rút ngắn v́ già, bệnh, và chết. Giây phút hiện tại là tất cả những ǵ chúng ta có, vậy chúng ta cần phải làm sao để thưởng thức cái vị ngọt pha lẫn chất đắng mà ḿnh được nếm, và đừng t́m cách níu lại những niềm vui ngắn ngủi khi chúng qua đi. Ông hoàng dũng cảm mà chúng ta được biết trong câu chuyện chắc chắn sẽ không chấp nhận bất kỳ một lời khuyên nào theo kiểu tốt bụng ấy. Chàng xem đó là sự tuyên truyền cho một đời sống âm thầm tuyệt vọng, kêu gọi chàng phản bội trái tim ḿnh. Nhưng nếu không t́m được sự khuây khoả nào trong những nguồn yên ủi ấy, chàng sẽ đi đâu trong xă hội của chúng ta? Không giống Ấn Độ thời đức Phật, chúng ta không có con đường nào khác - được định rơ và được xă hội chấp nhận – ngoài con đường trở thành những thành viên sản xuất kinh tế cho xă hội. Thậm chí các ḍng tu cũng được đánh giá cao v́ khả năng cung cấp bánh ḿ, mật ong, và rượu vang cho thị trường. Và hoàng tử có lẽ sẽ không có con đường nào khác ngoài con đường gia nhập vào hàng ngũ những người lang thang và thoát ly, những người cấp tiến và cách mạng, những người sống bên lề xă hội. Hoàng tử sẽ khám phá ra nhiều tâm hồn đẹp và nhạy cảm trong những nhóm người này, nhưng không có một khối tích tập những tuệ giác uyên áo, đă được kiểm chứng để chàng tham khảo. Có người sẽ đưa cho chàng một quyển sách của Thoreau[1] hay Muir[2], nhưng những điều họ viết chẳng mang lại cho chàng một phân tích thoả đáng nào về già, bệnh, chết, và cũng không mang lại bất kỳ một lời khuyên nào để vượt thoát chúng. Và bởi v́ không có một mạng lưới an toàn nào cho những người sống bên lề xă hội, chàng thấy ḿnh phải bỏ quá nhiều năng lượng vào các vấn đề cơm áo, và c̣n quá ít thời giờ hay năng lượng để t́m giải pháp riêng ḿnh cho vấn đề samvega. Chàng sẽ biến mất không c̣n tăm tích, dở dang sự nghiệp giác ngộ - có thể trong vùng núi Utah, hay trong một khu rừng Yukon nào đó. May mắn thay cho chúng ta, hoàng tử được sinh ra trong một xă hội có sự yểm trợ và tôn trọng cho những người sống thoát ly. Điều này đă cho chàng cơ hội để t́m giải pháp cho vấn đề samvega, mang lại công bằng cho sự thật trong trái tim chàng. Bước đầu tiên trong giải pháp này được biểu trưng trong câu chuyện Siddhartha qua phản ứng của thái tử với người thứ tư mà chàng gặp khi du hành ngoài cung điện: vị sa môn du hành. Tâm trạng lúc này của chàng có tên là pasada, một loại cảm xúc đa chiều khác, thường được dịch là ‘niềm tin trong sáng và trầm tĩnh’ (‘niềm tin thanh tịnh’ hay ‘tâm tịnh tín.’) Đây là cảm xúc giữ không cho samvega biến thành tuyệt vọng. Trong trường hợp của thái tử, chàng đă ư thức rơ t́nh trạng hiểm nguy của ḿnh, và ư thức về con đường thoát khỏi t́nh trạng ấy, đưa đến chỗ vượt ra ngoài già, bệnh, chết, đồng thời tin tưởng rằng con đường này sẽ thành công. Như các giáo lư ban đầu của Phật giáo công khai thừa nhận, t́nh trạng hiểm nguy của chúng ta chính là cái ṿng sinh, già, bệnh, chết hết sức vô nghĩa. Các giáo lư này không hề chối bỏ sự thật này, và cũng không bắt chúng ta phải lừa dối chính ḿnh hay nhắm mắt trước thực tại. Như một vị thầy đă nói: sự công nhận thực tại khổ đau của đạo Phật – quan trọng đến độ đặt khổ vào vị trí của thánh đế thứ nhất – là một món quà, bởi v́ nó thừa nhận kinh nghiệm trực tiếp và nhạy cảm nhất của chúng ta, một kinh nghiệm mà rất nhiều truyền thống khác t́m cách chối bỏ. Từ chỗ này, các giáo lư nguyên thỉ bảo ta hăy trở nên nhạy cảm hơn nữa, cho đến mức nhận ra nguyên nhân đích thực của khổ đau không phải nằm ở ngoài kia – nơi xă hội hay nơi kẻ khác – mà nằm ở trong này, nơi sự thèm khát (ái) có mặt trong tâm mỗi người. Các giáo lư này cũng xác nhận rằng có sự kết thúc của khổ, sự giải thoát khỏi ṿng sinh tử. Và chúng chỉ ra con đường đưa đến sự giải thoát ấy, qua việc tu tập phát triển các phẩm chất cao quư tiềm ẩn trong tâm cho đến mức loại trừ được sự thèm khát (ái) và mở ra cửa ngơ Vô Sinh. Tóm lại, t́nh trạng hiểm nghèo của chúng ta có một giải pháp thiết thực, nằm trong khả năng của mỗi con người. Giải pháp này cũng là một thứ vàng không sợ lửa, sẵn sàng đương đầu với mọi săm soi, thử nghiệm - một dấu hiệu chứng tỏ sự tự tin của đức Phật nơi giải pháp mà Ngài đă t́m ra cho vấn đề samvega. Đây là một trong những khía cạnh của đạo Phật chân chính có sức thu hút mạnh nhất đối với những người đă chán bị khuyên can hăy chối bỏ những tuệ giác tạo nên cảm xúc samvega nơi họ lúc ban đầu. Trên thực tế, đạo Phật nguyên thỉ không phải chỉ tự tin rằng nó có thể đối phó những cảm xúc samvega, nó c̣n là một trong số rất ít tôn giáo chủ động nuôi dưỡng và vun bồi những cảm xúc này đến mức cực độ. Giải pháp cho các vấn đề cuộc đời của đạo Phật đ̣i hỏi rất nhiều nỗ lực, mà chỉ có cảm xúc samvega mạnh mẽ mới giữ không cho hành giả rơi tuột trở lại con đường cũ của ḿnh. Cho nên đức Phật đă khuyên tất cả Phật tử, dù nam hay nữ, dù tại gia hay xuất gia, mỗi ngày đều nên quán niệm về già, bệnh, chia ĺa, và chết -- để phát triển những cảm xúc samvega – và quán niệm về sức mạnh của tự nghiệp (hành động của mỗi người) , để nâng samvega lên một bước nữa, đó là pasada. Với những người có ư thức samvega thật mạnh mẽ, muốn cắt bỏ những ràng buộc xă hội ngăn không cho họ đi theo con đường đưa đến sự chấm dứt khổ, đạo Phật cho họ một kho tàng trí tuệ đă được chứng minh từ lâu để tham khảo, đồng thời cũng cho họ một mạng lưới an toàn: tăng thân xuất gia, một thể chế giúp họ có thể rời khỏi đời sống tại gia mà không phải lo lắng chuyện cơm áo sinh nhai. Với những người không thể từ bỏ những ràng buộc xă hội, giáo lư đức Phật cống hiến cho họ cách sống trong cuộc đời mà không bị cuộc đời chế ngự, sống một đời sống rộng răi (thí), đức hạnh (giới), và thiền tịnh để làm mạnh thêm các phẩm chất cao quư trong tâm, những phẩm chất đưa đến sự chấm dứt khổ. Liên hệ hỗ tương mà đạo Phật thiết lập cho hai nhánh xuất gia và tại gia trong cộng đồng Phật giáo (parisa) bảo đảm mỗi bên đều được lợi lạc trong sự giao tiếp. Sự yểm trợ của người tại gia bảo đảm cho người xuất gia không phải quá lo lắng về thực phẩm, y phục, và chỗ ở; ḷng biết ơn trước sự bố thí vô điều kiện của người tại gia sẽ giúp giữ ǵn cho người xuất gia không trở nên những kẻ bất xứng hay chán ghét con người. Trong khi đó, sự tiếp xúc với người xuất gia giúp người tại gia hướng về một viễn cảnh khác trong đời sống, nuôi dưỡng năng lượng samvega và pasada mà họ cần phải có để không trở nên ù ĺ, tê liệt bởi sự tuyên truyền duy vật của nền kinh tế hiện hành. Thái độ của đạo Phật đối với đời sống đă trau dồi samvega – công khai thừa nhận sự vô nghĩa của ṿng sinh, già, và chết – và phát triển samvega trở thành pasada: tin tưởng vào con đường đưa đến sự Vô Sinh Bất Tử. Con đường này bao gồm không chỉ sự truyền thừa, mà c̣n cả một thể chế xă hội (tứ chúng) giúp nó được nuôi dưỡng và bảo tồn. Đó là tất cả những ǵ xă hội chúng ta đang hết sức cần. Thật hổ thẹn thay, trong những nỗ lực hiện nay của đạo Phật nhập theo xu thế xă hội, samvega và pasada là những khía cạnh của truyền thống mà người ta thường xuyên lờ đi, không nói đến. Chúng ta quên rằng một trong những nguồn sức mạnh của đạo Phật là khả năng rút một chân ra khỏi ḍng chảy cuộc đời, và biểu tượng truyền thống cho sự tu hành là vượt qua ḍng để đến bờ bên kia. Tôi hy vọng chúng ta sẽ bắt đầu nhớ lại những điều này, đưa chúng vào trong tim óc, để trong nỗ lực đi t́m một đạo Phật dễ dàng rao giảng, chúng ta không đến nổi phải bán hết lúa giống.
[1] Henry David Thoreau (1817-1862) tác giả người Mỹ, có nhiều tác phẩm về triết học, có nhiều tư tưởng cách mạng như băi bỏ chế độ chủ nô, cá nhân có thể kháng cự guồng máy cai trị v́ lư do đạo đức và công b́nh. Ông cũng viết về lịch sử và triết học tự nhiên, trong đó tiên liệu những phương pháp và t́m ṭi cho ngành sinh thái học và ngành lịch sử sinh môi, hai ngành quan trọng của thuyết sinh môi hiện đại. [2] John Muir (1838-1914) một trong những nhà bảo vệ sinh môi đầu tiên của thời hiện đại. Các bài luận văn và sách của ông kể về những cuộc thám hiểm thiên nhiên và về đời sống của loài vật nơi hoang dă, đặc biệt là cuốn Sierra Mountains of California thời ấy đă được hàng triệu người đọc và đến nay vẫn c̣n lưu hành rộng răi. Những hoạt động và triết lư của ông đă ảnh hưởng mạnh đến phong trào bảo vệ môi sinh đương đại. |
"Những người thường giác tỉnh,
(Pháp Cú 226)
"Tỷ
kheo, hăy tu thiền,
"Không
trítuệ, khôngthiền,
(Pháp Cú 371-372) |