|
TĂNG CHI BỘ KINH Anguttara Nikaya |
![]() |
|||
|
Tăng Chi Bộ
-- AN.1.47 -- (PTS: A i 8 (I,v,7)) “Như trong các loài cây, cây cọ phèn [1] là cây đứng đầu về mặt uyển chuyển, dễ uốn nắn nhất, cũng vậy, tôi không thấy có một pháp nào khi được mở mang phát triển và trau dồi mà lại uyển chuyển & dễ uốn nắn (nhu nhuyến) như tâm. Tâm khi được mở mang phát triển và trau dồi th́ nhu nhuyến. [1] Bản Pali nói là cây “Phandana”, không rơ là cây ǵ. Trang www.myanmar.gov.mm của chính phủ Miến Điện, bài của Luzoe nói về cây Gyok có nói rằng theo tự điển Pali - Miến th́ cây Kosamba và cây ‘Phandana’ đều có tên Miến là Cây Kriua, tên Anh là Gyok hay Ceylon Oak (sồi tích Lan), tến khoa học là Schleichera Trijuga (c̣n gọi là Schleichera oleosa.) Một tên khác của cây này là cây kusum. Cây kusum, các tài liệu Tây Phương và Miến Điện đều thống nhất là cây trú sâu, người ta thường trồng để nuôi trứng và sâu của bọ cánh kiến để lấy nhựa cánh kiến, dùng làm nhựa sơn, thuốc nhuộm v.v… Theo Vũ Dũng trong www.thiennhienviet.com nói về cây Muồng Hoàng Yến có nhắc đến, cây Dấu Dầu với tên khoa học là Schleichera Trijuga. Trong khi đó, Vơ Quang Yến trong bài Răng Đen Hột Huyền lại gọi cây Kusum (Schleichera Trijuga) là cây Dầu Trường hay Cọ Phèn một loại cây thường trồng để nuôi sâu chế nhựa cánh kiến. Cũng trong bài này, Vơ Quang Yến gọi cây Schleichera oleosa là cây Dầu Dầu. Tuy nhiên, cây ‘dầu dầu’ theo tự điển bách khoa toàn thư Việt Nam lại là cây Sam Biển, một loại xương rồng. Cây cọ phèn, theo tự điển bách khoa toàn thư Việt Nam, có tên khoa học là Protium serratum. Khi tra tên khoa học của cây này, chúng tôi thấy rất giống Schleichera Trijuga, thuộc họ Bồ Kết. Các tài liệu và tin tức về lâm nghiệp Việt Nam đều thống nhất cây cọ phèn trồng để nuôi sâu chế nhựa cánh kiến. Có một số dịch giả dịch cây phandana là cây phượng vĩ hồng. Tuy nhiên tên này chắc chắn không đúng v́ cây Phượng Vĩ (tên khoa học là Delonix Regia), có xuất xứ từ Madagasca do người Pháp du nhập vào Việt Nam, và chắc hẳn cũng không phải là cây ở Ấn Độ (xin xem bài Phượng của TS Vĩnh Sính.) Chúng tôi không t́m được nguồn nào nói về cây Dầu Trường. Như vậy, ta có thể kết luận, tên Việt của cây kusum (Schleichera Trijuga) là cây Cọ Phèn. Cây Kusum hay Cọ Phèn (Schleichera Trijuga) rất dễ thích nghi với khí hậu và hoàn cảnh, mọc được trên bất cứ loại đất nào, tuy thích nắng nhưng có thể sống chịu được bóng râm, chịu đựng được giá móc (lạnh) và cả khô hạn. Rễ lan tới đâu th́ có thể đâm chồi lên cây tới đó. Khi bị cắt ngọn vẫn sống được. Có lẽ v́ tính chất này, cây dễ dàng được uốn nắn theo ư người trồng (người Nhật cũng trồng bonsai bằng cây kusum.) Bài Kinh này nói đến tính nhu nhuyến của cây ‘phandana’ có lẽ là nói đến tính dễ thích nghi của cây, chứ không phải nói đến tính chất mềm của gỗ ‘phandana’ v́ cây này có gỗ cứng. Trong một kinh tiền thân, có nói đến một con sư tử nghỉ dưới cây phandana bị cành cây rớt xuống vai nên thù ghét cây này, xúi một người thợ mộc đốn cây để làm bánh xe. Bản Kinh của Thầy Thanissaro dịch cây ‘phandana’ là ‘balsam tree’ nghĩa là cây cho nhựa thơm (như cây thông), lại có những dịch giả khác dịch là cây trầm (sandalwood.) Đối chiếu với truyện tiền thân về con sư tử và cây phandana, chúng tôi nghĩ cây này không phải là cây trầm. Cây thông tùy gỗ mềm nhưng lại là cây xứ lạnh, ít mọc ở Ấn Độ. Trong khi đó, cây cọ phèn mọc rất nhiều ở Ấn Độ và các nước Đông Nam Á. [GN]
|
Mục lục (nội dung các Kinh)
(Tập 1) |
|||