TĂNG CHI BỘ KINH

Anguttara Nikaya


Trở về trang chủ

Tăng Chi Bộ -- AN 3.100 (i-x)  -- (PTS: A i 253)  
Thai III.102  
Pansadhovaka sutta  
Người tẩy bụi  
 
(Việt dịch: Giải Nghiêm, từ bản Pali-English của Thanissaro Bhikkhu. Xin chỉ dùng phát tặng không, không bán.)

 

          “Có những cấu tạp thô này trong vàng: đất cát, sạn đá, & sạn sỏi. Người tẩy bụi (thợ quặng)[1] hay thợ học nghề của ông ta, sau khi bỏ [vàng quặng] vào bể, bèn rửa đi rửa lại cho đến khi các cấu tạp thô này đă được rửa sạch hết.

          “Khi những cấu tạp thô đă được người ấy tẩy sạch rồi, vẫn c̣n những cấu tạp loại trung trong vàng: cát thô & sạn mịn. Người ấy lại rửa đi rửa lại vàng nữa cho đến khi các cấu tạp vừa này đă được rửa sạch hết.

          “Khi những cấu tạp vừa đă được người ấy tẩy sạch rồi, vẫn c̣n những cấu tạp tế trong vàng: cát mịn & bụi đen. Người tẩy bụi (thợ quặng) hay thợ học nghề của ông ta lại rửa đi rửa lại vàng cho đến khi các cấu tạp tế này đă được rửa sạch hết.

          “Khi những cấu tạp tế này đă được người ấy tẩy sạch rồi, th́ chỉ c̣n lại mạt vàng. Người thợ kim hoàn hay thợ học nghề của ông ta, sau khi đă bỏ mạt vàng vào nồi luyện kim, bèn thụt gió lên xuống [vào ống bễ] để thổi chất xỉ ra ngoài. Chừng nào vàng chưa được quạt gió qua lại cho đến khi các chất cấu tạp được thổi ra ngoài, chừng nào vàng chưa được tinh lọc, không c̣n chất xỉ, th́ khi ấy nó vẫn chưa mềm dẻo, dễ uốn, hay sáng chói. Vàng ấy dễ găy và chưa thể uốn đúc được. Nhưng một khi người thợ kim hoàn hay thợ học nghề của ông ta đă quạt gió qua lại cho đến khi các chất cấu tạp được thổi ra ngoài, vàng bèn được tinh lọc, không c̣n chất xỉ, mềm dẻo, dễ uốn, & sáng chói. Vàng ấy không c̣n dễ găy và có thể uốn đúc được. Khi ấy, bất cứ loại trang sức nào người ấy muốn làm – đai lưng, hoa tai, chuỗi hạt, hay dây chuyền – vàng ấy cũng có thể dùng để làm được.

 

          “Cũng vậy, có những cấu tạp thô này nơi một t́ khưu chăm hướng đến tâm tăng thượng: ác hạnh nơi thân, ngữ, & ư. T́ khưu – tự biết & có khả năng - từ bỏ, tiêu diệt, xua tan, quét sạch chúng không cho tồn tại. Khi chúng đă được dẹp sạch, th́ vẫn c̣n các cấu tạp loại trung: các ư tưởng về dục, ác ư, & gây tổn hại. Vị ấy từ bỏ, tiêu diệt, xua tan, quét sạch chúng không cho tồn tại. Khi chúng đă được dẹp sạch, th́ vẫn c̣n các cấu tạp tế: các ư tưởng về đẳng cấp của ḿnh, các ư nghĩ về địa phương của ḿnh, các ư tưởng liên hệ đến việc không muốn bị xem thường. Vị ấy từ bỏ, tiêu diệt, xua tan, quét sạch chúng không cho tồn tại.

          “Khi chúng đă được dẹp sạch, th́ chỉ c̣n các ư tưởng về chánh Pháp. Định của người ấy không tịnh cũng không tế, định ấy chưa đạt đến chỗ định tĩnh hay nhất tâm, và được duy tŕ bằng sự tạo ra (hành) sự câu thúc mạnh mẽ. Nhưng sẽ đến lúc tâm người ấy vững vàng hướng nội, lắng xuống, đi đến chỗ nhất tâm & định tĩnh. Định của người ấy tịnh & tế, định ấy đă đạt đến chỗ định tĩnh & nhất tâm, và không c̣n cần phải duy tŕ bằng sự tạo ra sự câu thúc mạnh mẽ nữa.

 

          “Và khi ấy, bất cứ tri thức cao nào [thuộc về Lục Thông] vị ấy hướng tâm tới để nhận biết, vị ấy cũng có thể tự ḿnh chứng tri bất cứ khi nào có sự khai mở.

“Nếu muốn, vị ấy sử dụng thần thông biến hoá. Từ một vị ấy trở thành nhiều; từ nhiều trở thành một. Vị ấy hiện ra. Vị ấy biến đi. Vị ấy đi xuyên qua tường, qua thành, qua núi như đi trong không gian. Vị ấy ẩn vào và trồi ra từ trong đất như ở trong nước. Vị ấy đi trên mặt nước mà không ch́m như đi trên đất liền. Trong khi ngồi xếp bằng vị ấy bay trong không trung như một con chim. Bằng tay không vị ấy chạm vuốt được cả mặt trời và mặt trăng, hết sức dơng mănh. Vị ấy thể hiện uy lực bằng thân ḿnh xa rộng đến cả thế giới Phạm Thiên. Vị ấy có thể tự chứng điều này bất cứ khi nào có sự khai mở.

“Nếu muốn, vị ấy có thể nghe được - bằng thiên nhĩ thanh tịnh, thù thắng hơn tai người – hai loại âm thanh: của trời và của người, dù gần hay xa. Vị ấy có thể tự chứng điều này bất cứ khi nào có sự khai mở.

“Nếu muốn, vị ấy có thể biết được tâm thức của các chúng sinh khác, của những người khác, do đă bao bọc tâm thức họ bởi tâm thức của chính ḿnh. Vị ấy nhận biết tâm có tham như là tâm có tham, và tâm không có tham như là tâm không có tham. Vị ấy nhận biết tâm có sân như là tâm có sân, và tâm không có sân như là tâm không có sân. Vị ấy nhận biết rơ tâm có si như là tâm có si, và tâm không có si như là tâm không có si. Vị ấy nhận biết tâm giới hạn như tâm giới hạn, và tâm tán loạn như tâm tán loạn. Vị ấy nhận biết tâm quảng đại như tâm quảng đại, và tâm không quảng đại như tâm không quảng đại. Vị ấy nhận biết tâm c̣n có thể vượt lên như tâm c̣n có thể vượt lên, và tâm vô thượng như là tâm vô thượng. Vị ấy nhận biết tâm có định như là tâm có định, và tâm không có định như là tâm không có định. Vị ấy nhận biết tâm đă giải thoát như là tâm đă giải thoát, và tâm chưa giải thoát như là tâm chưa giải thoát. Vị ấy có thể tự chứng điều này bất cứ khi nào có sự khai mở.

“Nếu muốn, vị ấy có thể nhớ lại rất nhiều kiếp trước (nghĩa đen: nhà trước), nghĩa là một đời, hai đời, ba đời, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn, nhiều hoại kiếp khi vũ trụ co lại, nhiều thành kiếp khi vũ trụ giăn ra, nhiều thành và hoại kiếp, [nhớ rằng:] ‘Ḿnh đă từng có tên như vậy, thuộc ḍng họ như vậy, có dung mạo như vậy. Thức ăn của ḿnh như vậy, lạc thọ và khổ thọ như vậy, mạng chung như vậy. Từ trạng thái đó mất đi, ḿnh lại tái hiện chỗ kia. Ở đó, ḿnh đă có tên như vậy, thuộc ḍng họ như vậy, có dung mạo như vậy. Thức ăn của ḿnh như vậy, lạc thọ và khổ thọ như vậy, mạng chung như vậy. Từ trạng thái đó mất đi, ḿnh lại tái hiện chỗ này.’ Cứ như vậy vị ấy nhớ lại rất nhiều kiếp trước với các hoàn cảnh và chi tiết. Vị ấy có thể tự chứng điều này bất cứ lúc nào có sự khai mở.

“Nếu muốn, vị ấy thấy - bằng thiên nhăn thanh tịnh và thù thắng hơn mắt người – các chúng sinh mất đi nơi này và tái hiện nơi khác, và vị ấy biết được họ hạ liệt hay cao quư, đẹp hay xấu, may mắn hay bất hạnh tùy theo nghiệp của họ: ‘Các chúng sinh này – mang các nghiệp xấu về thân, khẩu và ư, phỉ báng các bậc hiền thánh, nắm giữ tà kiến và hành động dưới ảnh hưởng của tà kiến – khi thân hoại, mạng chung, họ đă tái hiện trong thế giới bần cùng, nơi nẻo về xấu ác, nơi các cơi thấp, nơi địa ngục. Các chúng sinh kia – mang các nghiệp lành về thân, khẩu và ư, không phỉ báng các bậc hiền thánh, tŕ chánh kiến, và hành động dưới ảnh hưởng của chánh kiến – khi thân hoại, mạng chung, họ đă tái hiện ở các nẻo lành, nơi cơi trời.’ Cứ như vậy, bằng thiên nhăn thanh tịnh và thù thắng hơn mắt người - vị ấy thấy được các chúng sinh mất đi nơi này và tái hiện nơi khác, và vị ấy biết được họ hạ liệt hay cao quư, đẹp hay xấu, may mắn hay bất hạnh tùy theo nghiệp của họ. Vị ấy có thể tự chứng điều này bất cứ lúc nào có sự khai mở.

“Nếu vị ấy muốn, th́ qua sự chấm dứt của các lậu hoặc, vị ấy an trú trong tâm giải thoát & tuệ giải thoát vô lậu, do đă biết chúng và làm cho chúng hiển lộ ra cho ḿnh ngay bây giờ và ở đây. Vị ấy có thể tự chứng điều này bất cứ lúc nào có sự khai mở.”


 

[1] Danh từ ‘người tẩy bụi’ (dirt-washer) mặc dù có thể dịch là ‘thợ đăi vàng’ hay ‘thợ quặng’ cho gần gũi với ngôn ngữ xă hội, nhưng chúng tôi vẫn dịch sát theo chữ để giữ được ư nghĩa so sánh giữa việc tu tập và việc lọc vàng. Hơn nữa chữ ‘tẩy trần’ (tẩy bụi) đă là từ quen thuộc trong ngôn ngữ Phật giáo. Chữ Phật, viết theo tiếng Hán cũng có nghĩa là người phẩy (sạch) bụi. Trong bài Kinh này, quá tŕnh tẩy bụi không phải chỉ dừng lại ở công việc đăi vàng mà c̣n cả việc bỏ vào ḷ để tinh luyện cho thành vàng ṛng; do vậy chữ ‘thợ đăi vàng’ nếu dùng sẽ không sát với nghĩa toàn kinh. [GN]

 

 

 Nguyên bản tiếng Anh

 

Trang Kinh Pali

Giới thiệu Tăng Chi Bộ

Mục lục (nội dung các Kinh)

(Tập 1)

(Tập 2)

(Tập 3)
AN 3.02 Biểu thị tính cách    
AN 3.15 Người đóng xe
AN 3.22 Người bệnh
AN 3.33 Nguyên nhân
AN 3.34 Hatthaka (kinh về ngủ ngon trong rừng lạnh - trích đoạn)
AN 3.38 Phong lưu
AN 3.40 Chuẩn nhiếp hoá
AN 3.47 Hữu hành/hữu vi
AN 3.48 Núi
AN 3.51 Hai người (1)
AN 3.52 Hai người (2)
AN 3.57 Nói với Vacha (về Thí)
AN 3.60 Nói với Sangavara
AN 3.61 Các ngoại đạo
AN 3.62 Những mối hoạn nạn
AN 3.65 Nói với những người Kalamas
AN 3.66 Nói với Salha
AN 3.67 Các đề tài đàm luận
AN 3.68 Ngoại đạo
AN 3.69 Các gốc rễ
AN 3.70 Căn bản của Uposatha (ngày trai kỳ)
AN 3.71 Du sĩ Channa
AN 3.72 Nói với một đệ tử của những nhà theo thuyết Định Mệnh
AN 3.73 Nói với người họ Thích
AN 3.78 Giới & Hạnh Tu
AN 3.81 Con lừa
AN 3.88 Học (1)
AN 3.89 Học (2)
AN 3.91 Cấp bách
AN 3.94 Ngựa ṇi
AN 3.99 Hạt muối
AN 3.100 (i-x) Người tẩy bụi
AN 3.100 (xi-xv) Các đề mục
AN 3.105 Đỉnh nóc
AN 3.120 Minh mẫn
AN 3.123 Tại Miếu Gotamaka
AN 3.126 Thối rửa
AN 3.130 Khắc ghi
AN 3.134 Tính ổn định của Pháp

(Tập 4)

(Tập 5)

(Tập 6)

(Tập 7)

(Tập 8)

(Tập 9)

(Tập 10)

(Tập 11)