TĂNG CHI BỘ KINH

Anguttara Nikaya


Trở về trang chủ

Tăng Chi Bộ -- AN 3.67  -- (PTS: A i 196)    
Kathavatthu sutta    
Đề tài đàm luận    
 (Việt dịch: Giải Nghiêm, từ bản Pali-English của Thanissaro Bhikkhu. Xin chỉ dùng phát tặng không, không bán.)

 

“Này các t́ khưu, có ba đề tài để đàm luận này. Ba đề tài nào?

“Một người có thể nói về quá khứ, rằng: ‘Trong quá khứ nó đă từng như vậy.’ Một người có thể nói về tương lai, rằng: ‘Trong tương lai nó sẽ là như vậy.’ Hay một người có thể nói về bây giờ, trong hiện tại, rằng: ‘Bây giờ, trong hiện tại, nó là như vậy.’

 

“Này các t́ khưu, qua cách một người tham gia đàm luận, ta có thể nhận biết người ấy là xứng hay không xứng để nói chuyện với. Nếu một người, khi được hỏi một câu hỏi, không đưa ra câu trả lời khẳng định dứt khoát cho câu hỏi đáng được trả lời dứt khoát, không đưa ra câu trả lời phân tích (thích đáng) cho câu hỏi đáng được trả lời phân tích, không đưa ra câu hỏi ngược lại cho câu hỏi đáng được hỏi ngược lại, không đặt qua một bên câu hỏi đáng được đặt qua một bên, th́ – trong trường hợp đó - người ấy là người không xứng để nói chuyện với. Nhưng nếu một người, khi được hỏi một câu hỏi, đưa ra câu trả lời khẳng định dứt khoát cho câu hỏi đáng được trả lời dứt khoát, đưa ra câu trả lời phân tích (thích đáng) cho câu hỏi đáng được trả lời phân tích, đưa ra câu hỏi ngược lại cho câu hỏi đáng được hỏi ngược lại, đặt qua một bên câu hỏi đáng được đặt qua một bên, th́ – trong trường hợp đó - người ấy là người xứng để nói chuyện với.

 

“Này các t́ khưu, qua cách một người tham gia đàm luận, ta có thể nhận biết người ấy là xứng hay không xứng để nói chuyện với. Nếu một người, khi được hỏi một câu hỏi, không đi sát với thực tế những ǵ có thể có và không thể có được, không đi sát với những giả thiết đă được thoả thuận, không đi sát với các giáo pháp đă được nhận biết là đúng đắn chân thật[1], không đi sát với lệ thường, - th́ trong trường hợp đó - người ấy là người không xứng để nói chuyện với. Nhưng nếu một người, khi được hỏi một câu hỏi, đi sát với thực tế những ǵ có thể có và không thể có được, đi sát với những giả thiết đă được thoả thuận, đi sát với các giáo pháp đă được nhận biết là đúng đắn chân thật, đi sát với lệ thường, - th́ trong trường hợp đó - người ấy là người xứng để nói chuyện với.

 

“Này các t́ khưu, qua cách một người tham gia đàm luận, ta có thể nhận biết người ấy là xứng hay không xứng để nói chuyện với. Nếu một người, khi được hỏi một câu hỏi, đi lan man từ việc này sang việc khác, kéo cuộc thảo luận ra ngoài đề, bày tỏ sự giận dữ & ác cảm, và hờn dỗi, th́ – trong trường hợp đó - người ấy là người không xứng để nói chuyện với. Nhưng nếu một người, khi được hỏi một câu hỏi, không đi lan man từ việc này sang việc khác, không kéo cuộc thảo luận ra ngoài đề, không bày tỏ sự giận dữ & ác cảm, và hờn dỗi, th́ – trong trường hợp đó - người ấy là người xứng để nói chuyện với.

 

“Này các t́ khưu, qua cách một người tham gia đàm luận, ta có thể nhận biết người ấy là xứng hay không xứng để nói chuyện với. Nếu một người, khi được hỏi một câu hỏi, hạ [người hỏi] xuống, đè bẹp, giễu cợt, bắt bẻ những lỗi nhỏ nhặt của người hỏi, th́ – trong trường hợp đó - người ấy là người không xứng để nói chuyện với. Nếu một người, khi được hỏi một câu hỏi, không hạ [người hỏi] xuống, không đàn áp, giễu cợt, bắt bẻ những lỗi nhỏ nhặt của người hỏi, th́ – trong trường hợp đó - người ấy là người xứng để nói chuyện với.

 

“Này các t́ khưu, qua cách một người tham gia đàm luận, ta có thể nhận biết người ấy có tinh tiến (tiến gần đến đạo) hay không tinh tiến. Người lắng tai nghe là người tinh tiến; người không lắng tai nghe là người không tinh tiến. Do tinh tiến, hành giả biết rơ một pháp, hiểu thấu một pháp, từ bỏ một pháp, và chứng đạt một pháp[2]. Do biết rơ một pháp, hiểu thấu một pháp, từ bỏ một pháp, và chứng đạt một pháp, hành giả nếm được chánh giải thoát. Bởi đó chính là mục đích của đàm luận, mục đích của tham vấn, mục đích của tinh tiến, mục đích của lắng tai nghe: sự giải thoát của tâm nhờ không bám víu (chấp thủ.)

 

Những kẻ nào đàm luận    
mà giận dỗi, giáo điều,    
hay tâm đầy kiêu mạn,    
th́ đi theo con đường    
không phải đường bậc thánh,    
ưa t́m vạch lỗi nhau,    
thích thú khi thấy người    
nói nhầm, hay sơ suất,    
vấp váp, hay bị thua.    
Đó không phải là cách    
Đàm luận của bậc thánh.

Người trí biết phải thời,    
nếu muốn nói th́ sẽ    
nói những lời công minh,    
theo đường lối bậc thánh:    
Đó điều bậc giác nói,    
không giận cũng không kiêu,    
với tâm không sôi sục,    
không sôi nổi, hiềm thù.    
Không thèm muốn, đố kỵ,    
họ thốt lên những lời    
Phát xuất từ chánh trí.    
Họ hoan hỷ tùy hỷ    
với những lời khéo thuyết,    
không coi rẻ xem thường    
những lời không khéo thuyết.    
Không học để t́m lỗi,    
Không bắt lỗi nhỏ nhặt,    
Không hạ người thấp xuống,    
Không đè bẹp kẻ khác,    
Không nói lời bừa băi.

V́ mục đích hiểu biết,    
V́ để rơ niềm tin,    
Th́ đó mới đúng nghĩa    
của một cuộc tham vấn:    
Đó là cách bậc thánh    
hỏi ư, góp lời khuyên.    
Biết vậy, nên người trí    
Khuyên bảo cho kẻ khác    
Mà tâm không kiêu mạn.”


 

Chú thích của thầy Thanissaro:

 

[1] Ấn bản của Miến Điện đọc là aññaatavaada. Một cách dịch khác là “giáo pháp của các bậc hiểu biết.”

[2] Theo Chú Giải (Pali), những pháp này, theo thứ tự, là Đạo Đế, Khổ Đế, Tập Đế, và Khổ Diệt Đế.

 

Xem thêm: AN 4.42; AN 5.165; Sn 4.8

 

 Nguyên bản tiếng Anh

 

Trang Kinh Pali

Giới thiệu Tăng Chi Bộ

Mục lục (nội dung các Kinh)

(Tập 1)

(Tập 2)

(Tập 3)
AN 3.02 Biểu thị tính cách    
AN 3.15 Người đóng xe
AN 3.22 Người bệnh
AN 3.33 Nguyên nhân
AN 3.34 Hatthaka (kinh về ngủ ngon trong rừng lạnh - trích đoạn)
AN 3.38 Phong lưu
AN 3.40 Chuẩn nhiếp hoá
AN 3.47 Hữu hành/hữu vi
AN 3.48 Núi
AN 3.51 Hai người (1)
AN 3.52 Hai người (2)
AN 3.57 Nói với Vacha (về Thí)
AN 3.60 Nói với Sangavara
AN 3.61 Các ngoại đạo
AN 3.62 Những mối hoạn nạn
AN 3.65 Nói với những người Kalamas
AN 3.66 Nói với Salha
AN 3.67 Các đề tài đàm luận
AN 3.68 Ngoại đạo
AN 3.69 Các gốc rễ
AN 3.70 Căn bản của Uposatha (ngày trai kỳ)
AN 3.71 Du sĩ Channa
AN 3.72 Nói với một đệ tử của những nhà theo thuyết Định Mệnh
AN 3.73 Nói với người họ Thích
AN 3.78 Giới & Hạnh Tu
AN 3.81 Con lừa
AN 3.88 Học (1)
AN 3.89 Học (2)
AN 3.91 Cấp bách
AN 3.94 Ngựa ṇi
AN 3.99 Hạt muối
AN 3.100 (i-x) Người tẩy bụi
AN 3.100 (xi-xv) Các đề mục
AN 3.105 Đỉnh nóc
AN 3.120 Minh mẫn
AN 3.123 Tại Miếu Gotamaka
AN 3.126 Thối rửa
AN 3.130 Khắc ghi
AN 3.134 Tính ổn định của Pháp

(Tập 4)

(Tập 5)

(Tập 6)

(Tập 7)

(Tập 8)

(Tập 9)

(Tập 10)

(Tập 11)