TĂNG CHI BỘ KINH

Anguttara Nikaya


Trở về trang chủ

Tăng Chi Bộ -- AN 3.99  -- (PTS: A i 249)   
Thai III.101   
Lonaphala sutta   
Hạt muối   
 
(Việt dịch: Giải Nghiêm, từ bản Pali-English của Thanissaro Bhikkhu. Xin chỉ dùng phát tặng không, không bán.)

Ghi chú của thầy Thanissaro: Xin xem phần b́nh Kinh này trong chủ đề về Nghiệp (Karma) trong bài "Kamma & the Ending of Kamma" trong sách The Wings to Awakening.


“Này các t́ khưu, với những ai nói rằng: ‘Ai tạo nghiệp thế nào th́ sẽ thọ như vậy,’ th́ không có việc sống đời phạm hạnh, không có cơ hội cho sự chấm dứt khổ thực sự. Nhưng với những người nói rằng: ‘Khi một người tạo nghiệp để gây tác động thế nọ thế kia, th́ nghiệp quả sẽ được thọ nghiệm như vậy,’ th́ có việc sống đời phạm hạnh, có cơ hội cho sự chấm dứt khổ thực sự.

          “Có khi một nghiệp ác nhỏ nhặt do một người gây ra đưa người ấy vào địa ngục. Có khi cùng một nghiệp ác nhỏ nhặt ấy, do một người khác gây ra, được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa cả.

 

          “Một nghiệp ác nhỏ nhặt, gây ra bởi loại người nào, đưa người ấy vào địa ngục? Đây là trường hợp một người thân không được tu luyện [quán], giới đức không được tu luyện, tâm ư không được tu luyện, tuệ không được tu luyện: bị giới hạn, tâm chật hẹp, sống chung với khổ. Một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi loại người này đưa người ấy vào địa ngục.

          “Một nghiệp ác nhỏ nhặt, gây ra bởi loại người nào, được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa cả? Đây là trường hợp một người thân được tu luyện [quán], giới đức được tu luyện, tâm ư được tu luyện, tuệ được tu luyện: không bị giới hạn, tâm quảng đại, sống với cái vô lượng[1]. Một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi loại người này được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa.

          “Giả sử một người thả một cục muối vào một chút xíu nước trong một cái chén. Các thầy nghĩ sao? Có phải nước trong chén sẽ trở nên mặn v́ cục muối đó, và không uống được hay không?”

          “Thưa Thế Tôn, đúng vậy. V́ sao vậy? V́ chỉ có một chút xíu nước trong chén, nước sẽ trở nên mặn v́ cục muối đó, và không uống được.”

          “Bây giờ giả sử một người thả một cục muối vào sông Hằng. Các thầy nghĩ sao? Có phải nước trong sông Hằng sẽ trở nên mặn v́ cục muối đó, và không uống được hay không?”

          “Thưa Thế Tôn, không. V́ sao vậy? V́ có cả một lượng nước lớn trong sông Hằng, nước sẽ không v́ cục muối đó mà trở nên mặn hay không uống được.”

          “Cũng vậy, có khi một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi một người đưa người ấy vào địa ngục; có khi cùng một nghiệp ác nhỏ nhặt ấy, do một người khác gây ra, được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa cả.

 

          ‘Một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi loại người nào, đưa người ấy vào địa ngục? Đây là trường hợp một người thân không được tu luyện[2], giới đức không được tu luyện, tâm ư không được tu luyện [nghĩa là khổ thọ có thể xâm nhập và trụ lại nơi tâm ư], tuệ không được tu luyện: bị giới hạn, tâm chật hẹp, sống chung với khổ. Một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi loại người này đưa người ấy vào địa ngục.

‘Một nghiệp ác nhỏ nhặt, gây ra bởi loại người nào, được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa cả? Đây là trường hợp một người thân được tu luyện[3], giới đức được tu luyện, tâm ư được tu luyện [nghĩa là khổ thọ không thể xâm nhập và trụ lại nơi tâm ư], tuệ được tu luyện: không bị giới hạn, tâm quảng đại, sống với cái vô lượng. Một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi loại người này được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa.

“Có trường hợp một người bị bỏ tù v́ nửa đồng (kahapana), bị bỏ tù v́ một đồng, bị bỏ tù v́ một trăm đồng. Có trường hợp một người khác không bị bỏ tù v́ nửa đồng, không bị bỏ tù v́ một đồng, không bị bỏ tù v́ một trăm đồng. Vậy loại người nào bị bỏ tù v́ nửa đồng… một đồng… hay một trăm đồng? Đây là trường hợp một người nghèo, có ít của cải, có ít tài sản. Đây là loại người bị bỏ tù v́ nửa đồng… một đồng… hay một trăm đồng. Và loại người nào không bị bỏ tù v́ nửa đồng… một đồng… hay một trăm đồng? Đây là trường hợp một người giàu có, có nhiều của cải, có nhiều tài sản. Đây là loại người không bị bỏ tù v́ nửa đồng… một đồng… hay một trăm đồng.

“Cũng vậy, có khi một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi một người đưa người ấy vào địa ngục; có khi cùng một nghiệp ác nhỏ nhặt ấy, do một người khác gây ra, được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa cả.

 

“Một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi loại người nào, đưa người ấy vào địa ngục? Đây là trường hợp một người thân không được tu luyện [quán], giới đức không được tu luyện, tâm ư không được tu luyện, tuệ không được tu luyện: bị giới hạn, tâm chật hẹp, sống chung với khổ. Một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi loại người này đưa người ấy vào địa ngục.

“Một nghiệp ác nhỏ nhặt, gây ra bởi loại người nào, được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa cả? Đây là trường hợp một người thân được tu luyện [quán], giới đức được tu luyện, tâm ư được tu luyện, tuệ được tu luyện: không bị giới hạn, tâm quảng đại, sống với cái vô lượng. Một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi loại người này được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa.

“Cũng như một người đồ tễ giết dê được phép đánh, trói, giết, hay làm bất cứ ǵ ḿnh muốn đối với một người lấy trộm dê nào đó, nhưng không được phép đánh, trói, giết hay làm bất cứ ǵ ḿnh muốn đối với một người khác cũng lấy trộm dê. Loại người nào lấy trộm dê th́ người đồ tễ giết dê được phép đánh, trói, giết, hay làm bất cứ ǵ ḿnh muốn? Đây là trường hợp một người nghèo, có ít của cải, có ít tài sản. Đây là loại người - mà nếu lấy trộm dê - người đồ tễ giết dê được phép đánh, trói, giết hay làm bất cứ ǵ ḿnh muốn. Và loại người nào lấy trộm dê mà người đồ tễ giết dê không được phép đánh, trói, giết, hay làm bất cứ ǵ ḿnh muốn? Đây là trường hợp một người giàu có, có nhiều của cải, có nhiều tài sản; là vua hay là đại thần của vua. Đây là loại người – mà nếu lấy trộm dê - người đồ tễ giết dê không được phép đánh, trói, giết, hay làm bất cứ ǵ ḿnh muốn. Người ấy chỉ có thể đan hai tay trước ngực mà xin: ‘Thưa ngài, xin làm ơn cho tôi lại con dê hay số tiền trị giá con dê.’

“Cũng vậy, có khi một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi một người đưa người ấy vào địa ngục; có khi cùng một nghiệp ác nhỏ nhặt ấy, do một người khác gây ra, được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa cả.

 

 

“Một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi loại người nào, đưa người ấy vào địa ngục? Đây là trường hợp một người thân không được tu luyện [quán], giới đức không được tu luyện, tâm ư không được tu luyện, tuệ không được tu luyện: bị giới hạn, tâm chật hẹp, sống chung với khổ. Một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi loại người này đưa người ấy vào địa ngục.

“Một nghiệp ác nhỏ nhặt, gây ra bởi loại người nào, được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa cả? Đây là trường hợp một người thân được tu luyện [quán], giới đức được tu luyện, tâm ư được tu luyện, tuệ được tu luyện: không bị giới hạn, tâm quảng đại, sống với cái vô lượng. Một nghiệp ác nhỏ nhặt gây ra bởi loại người này được thọ nghiệm ngay trong thời điểm này, nhưng hầu như không xuất hiện vào lúc nào nữa.

“Này các t́ khưu, với những ai nói rằng: ‘Ai tạo nghiệp thế nào th́ sẽ thọ như vậy,’ th́ không có việc sống đời phạm hạnh, không có cơ hội cho sự chấm dứt khổ thực sự. Nhưng với những người nói rằng: ‘Khi một người tạo nghiệp để gây tác động thế nọ thế kia, th́ nghiệp quả sẽ được thọ nghiệm như vậy,’ th́ có việc sống đời phạm hạnh, có cơ hội cho sự chấm dứt khổ thực sự.”

 

Chú thích của thầy Thanissaro:


[1] Định vô lượng và ghi chú là xem Kinh AN 3.65.

[2] Nghĩa là: lạc thọ có thể xâm nhập và trụ lại nơi tâm ư. Xem MN 36.

[3] Nghĩa là: lạc thọ không thể xâm nhập và trụ lại nơi tâm ư.

 

Xem thêm: MN 86; MN 101; AN 3.33; AN 10.208.

 

 Nguyên bản tiếng Anh

 

Trang Kinh Pali

Giới thiệu Tăng Chi Bộ

Mục lục (nội dung các Kinh)

(Tập 1)

(Tập 2)

(Tập 3)
AN 3.02 Biểu thị tính cách    
AN 3.15 Người đóng xe
AN 3.22 Người bệnh
AN 3.33 Nguyên nhân
AN 3.34 Hatthaka (kinh về ngủ ngon trong rừng lạnh - trích đoạn)
AN 3.38 Phong lưu
AN 3.40 Chuẩn nhiếp hoá
AN 3.47 Hữu hành/hữu vi
AN 3.48 Núi
AN 3.51 Hai người (1)
AN 3.52 Hai người (2)
AN 3.57 Nói với Vacha (về Thí)
AN 3.60 Nói với Sangavara
AN 3.61 Các ngoại đạo
AN 3.62 Những mối hoạn nạn
AN 3.65 Nói với những người Kalamas
AN 3.66 Nói với Salha
AN 3.67 Các đề tài đàm luận
AN 3.68 Ngoại đạo
AN 3.69 Các gốc rễ
AN 3.70 Căn bản của Uposatha (ngày trai kỳ)
AN 3.71 Du sĩ Channa
AN 3.72 Nói với một đệ tử của những nhà theo thuyết Định Mệnh
AN 3.73 Nói với người họ Thích
AN 3.78 Giới & Hạnh Tu
AN 3.81 Con lừa
AN 3.88 Học (1)
AN 3.89 Học (2)
AN 3.91 Cấp bách
AN 3.94 Ngựa ṇi
AN 3.99 Hạt muối
AN 3.100 (i-x) Người tẩy bụi
AN 3.100 (xi-xv) Các đề mục
AN 3.105 Đỉnh nóc
AN 3.120 Minh mẫn
AN 3.123 Tại Miếu Gotamaka
AN 3.126 Thối rửa
AN 3.130 Khắc ghi
AN 3.134 Tính ổn định của Pháp

(Tập 4)

(Tập 5)

(Tập 6)

(Tập 7)

(Tập 8)

(Tập 9)

(Tập 10)

(Tập 11)