TẠP A HÀM  -- Tập 1

Quyển 2

雜 阿 含 經


Trở về trang chủ

Kinh SA(0037) Tự Trần -- (SN 22.94 Puppha hay Vaddha – PTS: {S iii 138})[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật trú tại nước Xá Vệ, ở rừng cây của thái tử Kỳ Đà, nơi vườn Cấp Cô Độc. Lúc đó Thế Tôn nói với các t́ kheo:

- “Ta không tranh chấp cùng thế gian, thế gian tranh chấp cùng ta. V́ sao như vậy? T́ kheo! Nếu ai nói đúng pháp, th́ không tranh chấp cùng thế gian[2]. Điều ǵ người trí trong thế gian nói là có, ta cũng nói là có.

“Thế nào là điều ǵ người trí trong thế gian nói là có, ta cũng nói là có? T́ kheo! Sắc là vô thường, có tính chất (gây) khổ, là pháp đổi thay, người trí trí trong thế gian nói là có (như vậy), ta cũng nói là có (như vậy). Cũng vậy, thọ tưởng hành thức là vô thường, có tính chất (gây) khổ, là pháp đổi thay, người trí trí trong thế gian nói là có (như vậy), ta cũng nói là có (như vậy).

“Điều ǵ người trí trong thế gian nói là không có, ta cũng nói là không có. Bảo rằng sắc là thường hằng, không đổi thay, tồn tại măi măi, người trí trong thế gian nói là không có (như vậy), ta cũng nói là không có (như vậy). Bảo rằng thọ tưởng hành thức là thường hằng không đổi thay, người trí trong thế gian nói là không có (như vậy), ta cũng nói là không có (như vậy). Đó gọi là người trí trong thế gian nói là không có, ta cũng nói là không có.

“T́ kheo! Có pháp thế gian trong thế gian, ta lại cũng tự biết tự hay, v́ người diễn nói, phân biệt, làm cho sáng tỏ, nhưng người đui không mắt trong thế gian không thấy không hay. Đó không phải là lỗi nơi ta. T́ kheo! Thế nào là pháp thế gian trong thế gian ta tự biết tự hay,

(** Đại Chính hai. 8 dưới)

v́ người diễn nói, phân biệt, làm cho sáng tỏ, mà người đui không mắt trong thế gian không thấy không hay?

“T́ kheo! Sắc là pháp vô thường, có tính chất (gây) khổ, và biến đổi; đó gọi là pháp thế gian trong thế gian. Cũng vậy, thọ tưởng hành thức là pháp vô thường, có tính chất (gây) khổ; đó gọi là pháp thế gian trong thế gian. T́ kheo! Đây là pháp thế gian trong thế gian ta tự biết tự hay, v́ người diễn nói, phân biệt làm sáng tỏ, mà người đui không mắt trong thế gian không thấy không hay. Với hạng người đui không mắt này, ta làm ǵ được!”

Phật thuyết kinh này xong, các t́ kheo nghe Phật giảng rồi, hoan hỉ phụng hành.


 

[1] Kinh Pali tương đương là SN 22.94 Puppha, có nghĩa là ‘Hoa’, cũng có tên khác là Vaddha: ‘tăng trưởng’. Ở đoạn cuối kinh này, đức Phật dùng ví dụ hoa sen – xanh, đỏ, hay trắng – sinh ra và lớn lên trong nước nhưng không bị ô nhiễm bởi nước bùn để nói ngài sống trong thế gian mà không bị nhiễm bởi thế gian. Bản Kinh chữ Hán không có ví dụ này. Bài kệ tóm tắt ghi tên Kinh là ‘Ngă’ tuy nhiên Kinh nội dung Kinh không phải nói về cái ngă mà là lời giải bày của đức Phật trước những hiểu lầm đối với Ngài, vậy chữ ‘ngă’ tức là (đức Phật) ‘nói về bản thân’, do vậy chúng tôi dịch tên Kinh là ‘Tự trần.’ [GN]

[2] Điều này thoạt nghe có vẻ như không đúng: không thiếu ǵ người giảng đúng pháp mà tâm tranh cạnh; tuy nhiên, làm như thế họ lại chưa thực giảng đúng pháp. [TC]

 

Âm Hán Việt:

37. Như thị ngă văn:

Nhất thời Phật trụ Xá Vệ Quốc Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên. Nhĩ thời Thế Tôn cáo chư t́ kheo:

- “Ngă bất dữ thế gian tranh. Thế gian dữ ngă tranh. Sở dĩ giả hà? T́ kheo! Nhược như pháp ngữ giả, bất dữ thế gian tranh. Thế gian trí giả ngôn hữu, ngă diệc ngôn hữu. Vân hà vi thế gian trí giả ngôn hữu, ngă diệc ngôn hữu? T́ kheo! Sắc vô thường khổ biến dịch pháp, thế gian trí giả ngôn hữu, ngă diệc ngôn hữu. Như thị thọ tưởng hành thức, vô thường khổ biến dịch pháp, thế gian trí giả ngôn hữu, ngă diệc ngôn hữu.

“Thế gian trí giả ngôn vô, ngă diệc ngôn vô. Vị sắc thị thường hằng bất biến dịch chính trụ giả, thế gian trí giả ngôn vô, ngă diệc ngôn vô. Thọ tưởng hành thức thường hằng bất biến dịch chính trụ giả, thế gian trí giả ngôn vô, ngă diệc ngôn vô. Thị danh thế gian trí giả ngôn vô, ngă diệc ngôn vô. T́ kheo! Hữu thế gian thế gian pháp, ngă diệc tự tri tự giác, vi nhân phân biệt, diễn thuyết hiển thị. Thế gian manh vô mục giả, bất tri bất kiến, phi ngă cữu dă. T́ kheo! Vân hà vi thế gian thế gian pháp, ngă tự tri tự giác,

(** Đại Chính nhị. Bát hạ)

vi nhân diễn thuyết, phân biệt hiển thị, manh vô mục giả, bất tri bất kiến? T́ kheo! Sắc vô thường khổ biến dịch pháp, thị danh thế gian thế gian pháp. Như thị thọ tưởng hành thức vô thường khổ, thị thế gian thế gian pháp. T́ kheo! Thử thị thế gian thế gian pháp, ngă tự tri tự giác, vi nhân diễn thuyết, phân biệt hiển thị, manh vô mục giả, bất tri bất kiến. Ngă ư bỉ manh vô mục bất tri bất kiến giả, kỳ như chi hà?”

Phật thuyết thử kinh dĩ, chư t́ kheo văn Phật sở thuyết, hoan hỉ phụng hành.

 

Bản dịch Anh Ngữ

Trang trước | Trang kế

Xem bản dịch của thầy Đức Thắng & Tuệ Sĩ

 

Trang trước | trang kế

TẬP 1

Lời dẫn

QUYỂN 1  (SA 0001-0032)
 

QUYỂN 2 (SA 0033-0058)

SA 0033   Phi Ngă
SA 0034   Phi Ngă giảng cho Năm T́ Khưu
SA 0035  Giảng cho ba người họ Thích

SA 0036 Hải đảo tự thân
SA 0037 Tự trần
SA 0038 Từ Thấp Lên Cao
SA 0039 Nhân giống
SA 0040 Ngăn trở
SA 0041 Ngũ Chuyển
SA 0042 Bảy Lĩnh Vực Căn Bản
SA 0043 Thủ Trước
SA 0044 Hệ Trước
SA 0045 Nhận Thức
SA 0046 Ba Đời Bị Ấm Ăn
SA 0047 Thiện Tín 1
SA 0048 Thiện Tín 2
SA 0049 A Nan Đà 1
SA 0050 A Nan Đà 2
SA 0051 Hoại Pháp
SA 0052 Uất Để Ca
SA 0053 Bà La Môn
SA 0054 Thế gian
SA 0055 Ấm
SA 0056 Lậu & Vô Lậu Pháp
SA 0057 Lậu Tận
SA 0058 Ấm Căn

QUYỂN 3 (SA 0059-0087)

QUYỂN 4 (SA 0088-0102)

QUYỂN 5 (SA0103-0110)

QUYỂN 6 (SA 0110-138)

QUYỂN 7 (SA 0139-0187)

QUYỂN  8 (SA 0188-0229)

QUYỂN 9 (SA 0230-0255)

QUYỂN  10 (SA 0256-0272)

QUYỂN 11 (SA 0273-0282)

QUYỂN 12 (SA 0283-0303)

QUYỂN 13 (SA0304-0342)

 

Tập1|Tập2 | Tập3|Tập4