|
TẠP A HÀM -- Tập 1 Quyển 2 雜 阿 含 經 |
![]() |
|||
|
Kinh SA(0039) Nhân Giống -- (SN22.54 Bija – PTS: {S iii 54})
Tôi nghe như vầy: Một thời, Phật trú tại nước Xá Vệ, ở rừng cây của thái tử Kỳ Đà, nơi vườn Cấp Cô Độc. Lúc đó Thế Tôn nói với các t́ kheo: - “Có năm loại nhân giống. Năm loại đó là ǵ? Là nhân giống từ rễ, nhân giống từ cành, nhân giống từ đốt, hạt giống tự rụng xuống (từ hoa khô), hạt giống từ trái (cây)[1]. Năm loại giống này nếu chẳng bị đứt, chẳng bị hư, chẳng bị thối, chẳng bị gió, (** Đại Chính hai. Chín trên) đủ chín và chắc, có đất nhưng không có nước th́ các loại giống này không thể sinh trưởng và lớn lên được. Nếu các nhân giống đó đủ chín và chắc, không bị đứt, không bị hư, không bị thối, không bị gió, có nước nhưng không có đất, th́ các giống ấy cũng không thể trưởng và lớn lên được. Nếu các nhân giống đó đủ chín và chắc, không bị đứt, không bị hư, không bị thối, không bị gió, có yếu tố nước và yếu tố đất, th́ các nhân giống đó sẽ sinh trưởng và lớn lên. “T́ kheo! Năm nhân giống này là ví cho thức đi cùng với thủ ấm[2]. Đất là ví cho bốn chỗ trụ vào của thức (sắc thọ tưởng hành), nước là ví cho ḷng ham thích. Bốn chỗ mà thức trụ vào và bám giữ, nắm níu vào[3] là bốn chỗ nào? Thức trụ nơi sắc, nắm níu sắc, được ḷng ham thích tưới tẩm nên sinh trưởng và lớn lên. Thức trụ nơi thọ tưởng hành, được ḷng ham thích tưới tẩm nên sinh trưởng và lớn lên[4]. “T́ kheo! Ở trong (sắc thọ tưởng hành), đó, thức có thể hoặc đến, hoặc đi, hoặc ở lại, hoặc khuất mất, hoặc sinh trưởng và lớn lên. T́ kheo! Nếu [có người nói:] ‘Ĺa khỏi sắc, thọ, tưởng, hành - thức có đến, có đi, có ở lại, hay khuất mất,’ th́ người đó chỉ nói thôi, hỏi nữa th́ không biết. [Nói như vậy] chỉ làm tăng thêm si mê lầm lạc, bởi v́ đó không phải là cảnh giới [nghĩa là không phải là đối tượng của sáu căn, do vậy, nằm ngoài phạm trù của khái niệm và diễn tả.] Từ bỏ ḷng tham đối với sắc, do từ bỏ ḷng tham mà ư sinh ràng buộc nơi sắc ấm[5] bị đoạn trừ. Do đoạn trừ cái ư sinh ràng buộc nơi sắc ấm mà sự nắm níu cũng bị cắt. Do sự nắm níu bị cắt, thức không c̣n chỗ trụ nữa sẽ không c̣n sinh trưởng và lớn lên. Từ bỏ ḷng tham đối với thọ… tưởng… hành, do từ bỏ ḷng tham mà ư sinh ràng buộc nơi hành ấm bị đoạn trừ. Do đoạn trừ cái ư sinh ràng buộc nơi hành ấm mà sự nắm níu cũng bị cắt. Do sự nắm níu bị cắt, thức không c̣n chỗ trụ nữa sẽ không c̣n sinh trưởng và lớn lên.[6] Do không sinh trưởng nữa, nên không c̣n tạo tác thêu dệt nữa[7]. Do không tạo tác thêu dệt nữa nên dừng, dừng th́ thoả măn không khao khát nữa[8]. Do thoả măn nên giải thoát. Do giải thoát nên đối với các pháp thế gian không c̣n nắm giữ, không c̣n bám chấp vào đâu nữa cả. Do không nắm giữ, không bám chấp mà tự biết Niết Bàn: sự sanh của (cái) ta đă dứt, Phạn hạnh đă lập, điều cần làm đă làm, tự biết không c̣n lănh thọ đời sau nữa. Ta nói thức ấy không phải là đi về hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, hay bốn phương phụ, phương trên, hay phương dưới, không có chỗ nào là chỗ nó hướng về, chỉ ngay trước mắt kề cận đi vào Niết Bàn tịch diệt, mát mẻ, thanh tịnh, chân thực. Phật thuyết kinh này xong, các t́ kheo nghe Phật giảng rồi, hoan hỉ phụng hành. [1] Giống từ rễ: trồng từ củ hay rễ; giống từ cành: trồng bằng cách chiết cành cắm xuống; giống từ đốt: kích thích cho đốt cây đâm rễ và trồng xuống; giống từ hạt rơi xuống: một số loại hoa có hạt khô rụng xuống; giống từ quả: hạt trong quả. [GN] [2] Nguyên bản: 譬取陰俱識 (thí thủ ấm câu thức), có thể dịch là ‘ví cho thủ ấm đi cùng với thức,’ tuy nhiên ở phần dưới lại chỉ nói đến thức cho nên biết rằng ‘thủ ấm câu’ là cụm từ bổ nghĩa cho ‘thức,’ v́ vậy đoạn này được dịch là ‘ví cho thức đi cùng với thủ ấm.’ Thủ ấm tức là năm ấm (đối tượng của sự bám víu), trong Kinh này nói thức bám víu vào bốn uẩn kia trong khi trụ vào chúng, v́ vậy ‘thủ ấm’ trong đoạn Kinh này là sắc, thọ, tưởng, hành. [GN] [3] Nguyên bản: 四取攀緣識住 (tứ thủ phan duyên thức trụ.) Chỗ này thầy Đức Thắng dịch là ‘bốn thủ vin bám nơi thức mà trụ’, nhưng xét theo nghĩa của đoạn đức Phật giải thích bên dưới th́ thức bám, vịn vào bốn đối tượng sắc, thọ, tưởng, hành, do vậy, câu Kinh này cũng phải được hiểu cùng theo nghĩa đó. Chúng tôi dịch: ‘Bốn chỗ mà thức trụ vào, và nắm níu vào.’ [4] Đoạn này thầy Đức Thắng và Thanh Từ đều dịch câu ‘hỷ tham nhuận trạch, sinh trưởng tăng quảng’ (喜貪潤澤。生長增廣) với nghĩa là ‘hỷ tham được ướt nhuần, sinh trưởng lớn mạnh.’ Tuy nhiên, ở trên đức Phật nói ‘hỷ tham’ là dụ cho nước, thức là dụ cho giống cây, v́ vậy các đặc tính ‘ướt nhuần, sinh trưởng lớn mạnh’ không thể áp dụng cho hỷ tham (nước) được. Nước th́ tưới, mà mầm cây (thức) th́ sinh trưởng lớn mạnh. Ta không thể ngắt câu sớm, lấy ‘hỷ tham’ làm chủ ngữ mà phải lấy ‘thức’ làm chủ ngữ. Chúng tôi dịch toàn câu là ‘thức trụ nơi sắc…thọ…tưởng…hành thức, vin vào sắc….., được ḷng ham thích tưới tẩm nên sinh trưởng và lớn lên.’ [GN] [5] Nguyên bản: 於色封滯 (ư sắc phong trệ.) ‘Phong trệ’ nghĩa là ngăn trở, đồng nghĩa với chữ ‘ấm’ trong năm ấm (năm uẩn.) Thức bị ràng buộc nơi các uẩn kia, trụ nơi đó và bị ngăn trở giới hạn. ‘Ư sinh’ trong ‘Ư sinh phược’ (意生縛), chúng tôi nghĩ là từ chữ cetanà nghĩa là ư định, ư hướng hay tư niệm (volition, intention) một trong các tâm sở biến hành đi kèm theo mọi h́nh thức của thức, và cũng là một trong bốn loại thức ăn (tứ thực) nuôi dưỡng sinh tử luân hồi. Hễ có ư định th́ có nghiệp (hành động có ư hướng), có tạo tác (tâm hành) cho nên gọi là ‘ư sinh.’ ‘Ư sinh phược’ nghĩa là sợi dây ràng buộc làm bằng tư niệm. Để câu văn dễ hiểu chúng tôi dịch thoát (giữ ư chính) là ‘ư sinh ràng buộc nơi sắc ấm được đoạn trừ.’ GN] [6] Thức mà đoạn Kinh nói đến lúc ban đầu là thức đi kèm với thủ ấm, sinh sôi nẩy nở trong thủ ấm. Thức đó là sản phẩm từ sự tạo tác (hành). Ví dụ: Khi một người ta thương qua đời, ta nhớ (bám víu) vào h́nh ảnh người đó, kinh nghiệm quá khứ (thức) của ta với người đó. Từ một tấm ảnh, một mùi hương c̣n lại ta tưởng tưởng (tưởng), tạo tác ra (hành) kinh nghiệm trong tâm tưởng (thức) của ḿnh với người đó. Ta bám víu vào thọ sinh ra do kinh nghiệm đó và tiếp tục tái tạo thêm kinh nghiệm trong tâm tưởng này. Kinh nghiệm trong tâm tưởng mà ta làm cho sinh sôi nảy nở này là thức trụ nơi tưởng, nơi thọ, nơi hành và nơi sắc. Đó là thức bị ràng buộc vào những cái không thật hay không bền vững, và v́ vậy càng làm ta khao khát, thất vọng, khổ sở. Thức này khác với tâm thức được giải thoát khỏi các ràng buộc nắm níu. [GN] [7] Nguyên bản: 不作行 (bất tác hành); Pali: na abhisankharoti. Abhisaṅkhāra (tương đương sankhara) là chi phần thứ hai trong 12 Nhân Duyên là sự tạo tác thêu dệt (fabriation) từ tư niệm (ư hướng, cetanà) đưa đến tái sinh. Hành (sankhara) nói chung nghĩa là sự tạo tác thêu dệt ra (fabricate) từ một ư hướng nào đó. Như ở ví dụ trong chú thích [6], tâm ư có thể vẽ vời ra những kinh nghiệm (thức) rồi cứ vậy đeo đuổi, vẽ vời thêm hoài. Những tạo tác này dựa trên nền tảng của một móng ư (intention) nào đó, móng ư này là nghiệp, do thói quen (nghiệp lực) đưa đẩy. Nếu không nhận biết ư hướng hay ư định của ḿnh trong hiện tại th́ tâm ta sẽ tạo tác theo ư hướng đó và ta cứ thế bị lôi đi. Nghiệp tức là hành động có ư hướng. Nghiệp thiện hay bất thiện là tùy thuộc nơi ư hướng. Hành là tạo tác đi theo một ư hướng nào đó và kéo theo nhiều nghiệp (hành động có ư hướng) khác. Trong một hành có thể có nhiều hành. ‘Bất tác hành’ nghĩa là không thêu dệt bịa đặt thêm nữa bằng tâm thức (không tạo tác ra những cái không thật.) [GN]
Âm Hán Việt: 39. Như thị ngă văn: Nhất thời Phật trụ Xá Vệ Quốc Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên. Nhĩ thời Thế Tôn cáo chư t́ kheo: - “Hữu ngũ chủng chủng tử. Hà đẳng vi ngũ? Vị: căn chủng tử, hành chủng tử, tiết chủng tử, tự lạc chủng tử, thực chủng tử. Thử ngũ chủng tử bất đoạn, bất hoại, bất hủ, bất trúng (** Đại Chính nhị. Cửu thượng) phong, tân nhiệt kiên thực, hữu địa giới nhi vô thủy giới, bỉ chủng tử bất sinh trưởng tăng quảng. Nhược bỉ chủng tử tân nhiệt kiên thực, bất đoạn, bất hoại, bất trúng phong, hữu thủy giới nhi vô địa giới, bỉ chủng tử diệc bất sinh trưởng tăng quảng. Nhược bỉ chủng tử tân nhiệt kiên thực, bất đoạn, bất hoại, bất hủ, bất trúng phong, hữu địa thủy giới, bỉ chủng tử sinh trưởng tăng quảng. T́ kheo! Bỉ ngũ chủng tử giả, thí thủ ấm câu thức. Địa giới giả, thí tứ thức trụ; thủy giới giả, thí tham hỉ. Tứ thủ phàn duyên thức trụ. Hà đẳng vi tứ? Ư sắc trung thức trụ, phàn duyên sắc, hỉ tham nhuận trạch, sinh trưởng tăng quảng. Ư thọ tưởng hành trung thức trụ, tham hỉ nhuận trạch, sinh trưởng tăng quảng. T́ kheo! Thức ư trung nhược lai, nhược khứ, nhược trụ, nhược một, nhược sinh trưởng tăng quảng. T́ kheo! Nhược ly sắc, thọ, tưởng, hành, thức hữu nhược lai, nhược khứ, nhược trụ, nhược sinh giả, bỉ đăn hữu ngôn, số vấn dĩ bất tri, tăng ích sinh si, dĩ phi cảnh giới cố. Sắc giới ly tham, ly tham dĩ, ư sắc phong trệ, ư sinh phược đoạn. Ư sắc phong trệ, ư sinh phược đoạn dĩ, phan duyên đoạn. Phan duyên đoạn dĩ, thức vô trụ xứ, bất phục sinh trưởng tăng quảng. Thọ tưởng hành thức ly tham, ly tham dĩ, ư hành phong trệ, ư sinh phược đoạn. Ư hành phong trệ, ư sinh phược đoạn dĩ, phan duyên đoạn. Phan duyên đoạn dĩ, bỉ thức vô trụ xứ, bất phục sinh trưởng tăng quảng. Bất sinh trưởng cố, bất tác hành, bất tác hành dĩ trụ, trụ dĩ tri túc. Tri túc dĩ giải thoát. Giải thoát dĩ ư chư thế gian, đô vô sở thủ vô sở trước, vô sở thủ vô sở trước dĩ, tự giác Niết Bàn, ngă sinh dĩ tận, Phạn hạnh dĩ lập, sở tác dĩ tác, tự tri bất thọ hậu hữu. Ngă thuyết bỉ thức, bất chí đông tây nam bắc tứ duy thượng hạ, vô sở chí thú, duy kiến pháp dục nhập Niết Bàn tịch diệt, thanh lương thanh tịnh chân thực. Phật thuyết thử kinh dĩ, chư t́ kheo văn Phật sở thuyết, hoan hỉ phụng hành.
|
TẬP 1
QUYỂN
1
(SA 0001-0032) QUYỂN 2 (SA 0033-0058) SA 0033
Phi Ngă QUYỂN 3 (SA 0059-0087) QUYỂN 4 (SA 0088-0102) QUYỂN 5 (SA0103-0110) QUYỂN 6 (SA 0110-138) QUYỂN 7 (SA 0139-0187) QUYỂN 8 (SA 0188-0229) QUYỂN 9 (SA 0230-0255) QUYỂN 10 (SA 0256-0272) QUYỂN 11 (SA 0273-0282) QUYỂN 12 (SA 0283-0303) QUYỂN 13 (SA0304-0342)
|
|||