TẠP A HÀM  -- Tập 1

Quyển 2

雜 阿 含 經


Trở về trang chủ

Kinh SA(0041) Ngũ Chuyển -- (SN22.56 Upadanam parivattam (The (Fourfold) Round) – PTS {S iii 58})[1]

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật trú tại nước Xá Vệ, ở rừng cây của thái tử Kỳ Đà, nơi vườn Cấp Cô Độc. Lúc đó Thế Tôn nói với các t́ kheo:

- “Có năm thủ ấm [tức năm đối tượng của sự bám víu, làm cho tâm thức bị ngăn trở[2]: thủ ấm sắc, thủ ấm thọ… tưởng… hành… thức. Nơi năm thủ ấm này, ta biết năm điều như thực [đối với từng thủ ấm]: Biết như thực về sắc, biết như thực về sự tập thành của sắc[3], … vị hấp dẫn của sắc, … mối hoạn nạn từ sắc, … sự tách ly đối với sắc. Cũng như vậy, biết như thực về thọ… tưởng… hành… thức v.v… biết như thực về sự tập thành của thức, … vị hấp dẫn của thức, …. vị hấp dẫn của thức, … mối hoạn nạn từ thức, … sự tách ly đối với thức.

 

“Thế nào là biết như thực về sắc? Những ǵ có h́nh sắc: Tứ đại và các h́nh sắc do tứ đại tạo nên, tất cả đều gọi là sắc. Sắc như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tập thành của sắc? Nơi sắc mà ham thích th́ gọi là sự tập thành của sắc. Sự tập thành của sắc như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực vị hấp dẫn của sắc? Hỷ lạc do duyên vào nhân sắc mà phát khởi. Đó gọi là vị hấp dẫn của sắc. Vị hấp dẫn của sắc như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực mối hoạn nạn từ sắc? Sự kiện sắc là pháp vô thường, (có tính chất gây) khổ, và đổi dời gọi là mối hoạn nạn từ sắc. Hoạn nạn từ sắc như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tách ly đối với sắc? Sự kiện đối với sắc mà điều phục được ḷng tham muốn, dứt bỏ được ḷng tham muốn, vượt lên trên ḷng tham muốn gọi là sự tách ly đối với sắc. Sự tách ly đối với sắc như vậy, biết thực như vậy.

 

“Thế nào là biết như thực về thọ? Có sáu h́nh thái thọ (thọ thân): thọ phát sinh từ sự tiếp xúc của mắt, thọ phát sinh từ sự tiếp xúc của tai… mũi… lưỡi… thân… ư; đó gọi là thọ. Thọ như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tập thành của thọ? Sự tập thành của xúc là sự tập thành của thọ[4]. Sự tập thành của thọ như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực vị hấp dẫn của thọ? Hỉ lạc do duyên vào sáu thọ mà phát khởi, đó gọi là vị hấp dẫn của thọ. Vị hấp dẫn của thọ như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực mối hoạn nạn từ thọ? Sự kiện thọ là pháp vô thường, (có tính chất gây) khổ, và đổi dời gọi là mối hoạn nạn từ thọ. Hoạn nạn từ thọ như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tách ly đối với thọ? Đối với thọ mà điều phục được ḷng tham muốn, dứt bỏ được ḷng tham muốn, vượt lên trên ḷng tham muốn gọi là sự tách ly đối với thọ. Sự tách ly đối với thọ như vậy, biết thực như vậy.

 

“Thế nào là biết như thực về tưởng? Có sáu h́nh thái tưởng (tưởng thân), thế nào là sáu? Là tưởng phát sinh từ sự xúc chạm của mắt, tưởng phát sinh từ sự xúc chạm của tai… mũi… lưỡi… thân… ư,

(** Đại Chính hai. 9 dưới)

đó gọi là tưởng. Tưởng như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực về sự tập thành của tưởng? Sự tập thành của xúc là sự tập thành của tưởng. Sự tập thành của tưởng là như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực vị hấp dẫn của tưởng? Hỉ lạc do duyên vào sáu tưởng mà phát khởi, đó gọi là vị hấp dẫn của tưởng. Vị hấp dẫn của tưởng như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực mối hoạn nạn từ tưởng? (Sự kiện) tưởng là pháp vô thường, (có tính chất gây) khổ, và đổi dời gọi là mối hoạn nạn từ tưởng. Hoạn nạn từ tưởng như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tách ly đối với tưởng? Đối với tưởng mà điều phục được ḷng tham muốn, dứt bỏ được ḷng tham muốn, vượt lên trên ḷng tham muốn gọi là sự tách ly đối với tưởng. Sự tách ly đối với tưởng như vậy, biết thực như vậy.

 

“Thế nào là biết như thực về hành? Có sáu h́nh thái tư niệm (tư thân): ư hướng (tư) phát khởi qua sự tiếp xúc của mắt, ư hướng phát khởi qua sự tiếp xúc của tai… mũi… lưỡi… thân… ư; đó gọi là hành. Hành như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tập thành của hành? Sự tập thành của xúc là sự tập thành của hành. Sự tập thành của hành là như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực vị hấp dẫn của hành? Hỉ lạc do duyên vào hành mà phát khởi, đó gọi là vị hấp dẫn của hành. Vị hấp dẫn của hành như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực mối hoạn nạn từ hành? (Sự kiện) hành là pháp vô thường, (có tính chất gây) khổ, và đổi dời gọi là mối hoạn nạn từ hành. Hoạn nạn từ hành như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tách ly đối với hành? Đối với hành mà điều phục được ḷng tham muốn, dứt bỏ được ḷng tham muốn, vượt lên trên ḷng tham muốn gọi là sự tách ly đối với hành. Sự tách ly đối với hành như vậy, biết thực như vậy.

 

“Thế nào là biết như thực về thức? Có sáu h́nh thái thức (thức thân): h́nh thái thức của mắt, h́nh thái thức của tai… mũi… lưỡi… thân… ư. Đó là gọi là thức thân. Thức thân như vậy, biết thực như vậy.

Thế nào là biết như thực sự tập thành của thức? Sự tập thành của danh sắc là sự tập thành của thức[5]. Sự tập thành của thức là như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực vị hấp dẫn của thức? Hỉ lạc do duyên vào thức mà phát khởi, đó gọi là vị hấp dẫn của thức. Vị hấp dẫn của thức như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực mối hoạn nạn từ thức? Sự kiện thức là pháp vô thường, (có tính chất gây) khổ, và đổi dời gọi là mối hoạn nạn từ thức. Hoạn nạn từ thức như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tách ly đối với thức? Đối với thức mà điều phục được ḷng tham muốn, dứt bỏ được ḷng tham muốn, vượt lên trên ḷng tham muốn gọi là sự tách ly đối với thức. Sự tách ly đối với thức như vậy, biết thực như vậy.

 

“T́ kheo! Sa môn, bà la môn nào đối với sắc mà thấy như vậy, biết như vậy, và do thấy, biết như vậy mà hướng đến xa ĺa ḷng ham muốn (đối với sắc), th́ (họ) đang (đi) đúng hướng. Người nào đi đúng hướng tức là đă bước vào được trong giáo pháp của ta. Thọ tưởng hành thức cũng tương tự như vậy.

“Sa môn, bà la môn nào thấy như vậy, biết như vậy về sắc mà sinh nhàm chán, ĺa bỏ ḷng ham muốn đối với sắc, không khởi các lậu hoặc, th́ tâm được giải thoát. Người tâm được giải thoát tức là đạt tới thuần nhất. Người đạt tới thuần nhất

(** Đại Chính hai. 10 trên)

tức là Phạm hạnh lập. Người Phạm hạnh lập th́ tách rời cái không phải là ḿnh (sắc), được tự tại. Đó gọi là chỗ kết thúc của khổ. Thọ tưởng hành thức cũng như vậy.”

 

Phật thuyết kinh này xong, các t́ kheo nghe Phật giảng rồi, hoan hỉ phụng hành.


 

[1] Kinh Pali tương đương SN22.56 Upadanam parivattam có nghĩa là ‘Tứ Chuyển đối với 5 uẩn.’ ‘Chuyển’ (parivattam) có nghĩa là ṿng hay những giai đoạn tiếp nối nhau. Bản Kinh Pali liệt kê ‘Tứ Chuyển’ là: thủ uẩn, sự tập thành của thủ uẩn, sự chấm dứt (bám víu vào) uẩn, con đường đưa đến sự chấm dứt (bám víu vào) thủ uẩn. Bản Kinh A Hàm này nói đến Ngũ Chuyển, gồm: thủ uẩn, sự tập thành của thủ uẩn, vị hấp dẫn của thủ uẩn, những hoạn nạn từ 5 thủ uẩn, sự tách ly (không bám víu) 5 thủ uẩn. [GN]

[2] Nguyên bản: 受陰 (thụ ấm), chữ thụ () có lẽ là do chữ thủ () viết trại ra, hai chữ này đều có nghĩa là chịu lấy, nhưng thủ c̣n có nghĩa là nắm lấy (clinging) thường đi trong cụm từ năm uẩn như đối tượng bám víu. [GN]

[3] (tập): tích lũy, góp lại (accumulation, Pali: àyuhana); Kinh Pali th́ dịch là căn nguyên, hay nguyên nhân (origination, Pali: samut.t.hàna. (Tập Đế) là samudaya-sacca.)) Thân được sinh khởi từ bốn loại nguyên nhân: do nghiệp, do thức, do nhiệt độ, do chất nuôi dưỡng (thức ăn.) Sinh khởi từ nghiệp (ví dụ các căn (giác quan), hay giới tính là do nghiệp sinh) tức là được điều kiện hoá bởi các hành nghiệp - thiện hay bất thiện – trong quá khứ. Tập (àyuhana) là tên gọi các hành nghiệp (kamma-sankhara, hay hành trong 12 nhân duyên) dẫn đến tái sinh. Khái niệm ‘Tập’ này chú trọng đến các tư niệm (ư hướng, Pali: cetanà) khởi lên khi tạo nghiệp, chính những tư niệm này tích tập lại, đưa đến sự tái sinh. Hán Tạng dùng chữ ‘Tập’ nghĩa là nhấn mạnh nguyên nhân sinh tử (thọ nhận 5 thủ uẩn) do sự tích tập của các hành nghiệp hay của các tư niệm (volition, cetàna.) Sắc tập (色集): ư hướng t́m sự vui thích (hỷ ái) nơi sắc, tư niệm này tích tập lại đưa đến sự tập thành của sắc (thân.) [GN]

[4] Xúc tập (觸集): Sự huân tập, tích tập của các ư hướng t́m sự vui thích nơi xúc. Các tư niệm này tích tập lại đưa đến sự tập thành của thọ, tưởng, hành. [GN]

[5] Danh sắc tập (名色集): Sự tích tập của các hành nghiệp (kamma-sankhara) đưa đến danh & sắc. Các hành nghiệp này là thói quen (thiện hay bất thiện) ưa muốn danh & sắc [GN]

 

Âm Hán Việt:

41. Như thị ngă văn:

Nhất thời Phật trụ Xá Vệ Quốc Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên. Nhĩ thời Thế Tôn cáo chư t́ kheo:

- “Hữu ngũ thọ ấm, sắc thọ ấm, thọ tưởng hành thức thọ ấm. Ngă ư thử ngũ thọ ấm, ngũ chủng như thực tri. Sắc như thực tri; sắc tập, sắc vị, sắc hoạn, sắc ly như thực tri. Như thị thọ tưởng hành thức như thực tri; thức tập, thức vị, thức hoạn, thức ly như thực tri. Vân hà sắc như thực tri? Chư sở hữu sắc, nhất thiết tứ đại cập tứ đại tạo sắc, thị danh sắc. Như thị sắc như thực tri. Vân hà sắc tập như thực tri? Ư sắc hỉ ái, thị danh sắc tập. Như thị sắc tập như thực tri. Vân hà sắc vị như thực tri? Vị sắc nhân duyên sinh hỉ lạc. Thị danh sắc vị. Như thị sắc vị như thực tri. Vân hà sắc hoạn như thực tri? Nhược sắc vô thường khổ biến dịch pháp, thị danh sắc hoạn. Như thị sắc hoạn như thực tri. Vân hà sắc ly như thực tri? Nhược ư sắc điều phục dục tham, đoạn dục tham, việt dục tham, thị danh sắc ly. Như thị sắc ly như thực tri.

“Như hà thọ như thực tri? Hữu lục thọ thân, nhăn xúc sinh thọ, nhĩ tị thiệt thân ư xúc sinh thọ, thị danh thọ. Như thị thọ như thực tri. Vân hà thọ tập như thực tri? Xúc tập thị thọ tập. Như thị thọ tập như thực tri. Vân hà thọ vị như thực tri? Duyên lục thọ sinh hỉ lạc, thị danh thọ vị. Như thị thọ vị như thực tri. Vân hà thọ hoạn như thực tri? Nhược thọ vô thường khổ biến dịch pháp, thị danh thọ hoạn. Như thị thọ hoạn như thực tri. Vân hà thọ ly như thực tri? Ư thọ điều phục dục tham, đoạn dục tham, việt dục tham, thị danh thọ ly. Như thị thọ ly như thực tri.

“Như hà tưởng như thực tri? Hữu lục tưởng thân, vân hà vi lục? Vị nhăn xúc sinh tưởng; nhĩ tị thiệt thân ư xúc sinh tưởng, thị

(** Đại Chính nhị. Cửu hạ)

danh tưởng. Như thị tưởng như thực tri. Vân hà tưởng tập như thực tri? Vị xúc tập thị tưởng tập. Như thị tưởng tập như thực tri. Vân hà tưởng vị như thực tri? Tưởng nhân duyên sinh hỉ lạc, thị danh tưởng vị. Như thị tưởng vị như thực tri. Vân hà tưởng hoạn như thực tri? Vị tưởng vô thường khổ biến dịch pháp, thị danh tưởng hoạn. Như thị tưởng hoạn như thực tri. Vân hà tưởng ly như thực tri? Nhược ư tưởng điều phục dục tham, đoạn dục tham, việt dục tham, thị danh tưởng ly. Như thị tưởng ly như thực tri.

“Vân hà hành như thực tri? Vị lục tư thân, nhăn xúc sinh tư, nhĩ tị thiệt thân ư xúc sinh tư, thị danh vi hành. Như thị hành như thực tri. Vân hà hành tập như thực tri? Xúc tập thị hành tập. Như thị hành tập như thực tri. Vân hà hành vị như thực tri? Vị hành nhân duyên sinh hỉ lạc, thị danh hành vị. Như thị hành vị như thực tri. Vân hà hành hoạn như thực tri? Nhược hành vô thường khổ biến dịch pháp, thị danh hành hoạn. Như thị hành hoạn như thực tri. Vân hà hành ly như thực tri? Nhược ư hành điều phục dục tham, đoạn dục tham, việt dục tham, thị danh hành ly. Như thị hành ly như thực tri.

“Vân hà thức như thực tri? Vị lục thức thân, nhăn thức thân, nhĩ tị thiệt thân ư thức thân, thị danh vi thức thân. Như thị thức thân như thực tri. Vân hà thức tập như thực tri? Vị danh sắc tập thị thức tập. Như thị thức tập như thực tri. Vân hà thức vị như thực tri? Thức nhân duyên sinh hỉ lạc, thị danh thức vị. Như thị thức vị như thực tri. Vân hà thức hoạn như thực tri? Nhược thức vô thường khổ biến dịch pháp, thị danh thức hoạn. Như thị thức hoạn như thực tri. Vân hà thức ly như thực tri? Vị ư thức điều phục dục tham, đoạn dục tham, việt dục tham, thị danh thức ly. Như thị thức ly như thực tri.

“T́ kheo! Nhược sa môn, bà la môn, ư sắc như thị tri, như thị kiến, như thị tri, như thị kiến, ly dục hướng, thị danh chính hướng. Nhược chính hướng giả, ngă thuyết bỉ nhập. Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Nhược sa môn, bà la môn, ư sắc như thị tri, như thị kiến, ư sắc sinh yếm, ly dục, bất khởi chư lậu, tâm đắc giải thoát. Nhược tâm đắc giải thoát giả, tắc vi thuần nhất. Thuần

(** Đại Chính nhị. Thập thượng)

nhất giả tắc Phạn hạnh lập, Phạn hạnh lập giả ly tha tự tại. Thị danh khổ biên. Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.”

Phật thuyết thử kinh dĩ, chư t́ kheo văn Phật sở thuyết, hoan hỉ phụng hành.

 

Bản dịch Anh Ngữ

Trang trước | trang kế

Trang trước | trang kế

TẬP 1

Lời dẫn

QUYỂN 1  (SA 0001-0032)
 

QUYỂN 2 (SA 0033-0058)

SA 0033   Phi Ngă
SA 0034   Phi Ngă giảng cho Năm T́ Khưu
SA 0035  Giảng cho ba người họ Thích

SA 0036 Hải đảo tự thân
SA 0037 Tự trần
SA 0038 Từ Thấp Lên Cao
SA 0039 Nhân giống
SA 0040 Ngăn trở
SA 0041 Ngũ Chuyển
SA 0042 Bảy Lĩnh Vực Căn Bản
SA 0043 Thủ Trước
SA 0044 Hệ Trước
SA 0045 Nhận Thức
SA 0046 Ba Đời Bị Ấm Ăn
SA 0047 Thiện Tín 1
SA 0048 Thiện Tín 2
SA 0049 A Nan Đà 1
SA 0050 A Nan Đà 2
SA 0051 Hoại Pháp
SA 0052 Uất Để Ca
SA 0053 Bà La Môn
SA 0054 Thế gian
SA 0055 Ấm
SA 0056 Lậu & Vô Lậu Pháp
SA 0057 Lậu Tận
SA 0058 Ấm Căn

QUYỂN 3 (SA 0059-0087)

QUYỂN 4 (SA 0088-0102)

QUYỂN 5 (SA0103-0110)

QUYỂN 6 (SA 0110-138)

QUYỂN 7 (SA 0139-0187)

QUYỂN  8 (SA 0188-0229)

QUYỂN 9 (SA 0230-0255)

QUYỂN  10 (SA 0256-0272)

QUYỂN 11 (SA 0273-0282)

QUYỂN 12 (SA 0283-0303)

QUYỂN 13 (SA0304-0342)

 

Tập1|Tập2 | Tập3|Tập4