TẠP A HÀM  -- Tập 1

Quyển 2

雜 阿 含 經


Trở về trang chủ

Kinh SA(0042) Bảy Lĩnh Vực Căn Bản -- (SN22.57 Sattatthana (Seven Bases) – PTS {S iii 61})

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật trú tại nước Xá Vệ, ở rừng cây của thái tử Kỳ Đà, nơi vườn Cấp Cô Độc. Lúc đó Thế Tôn nói với các t́ kheo:

- “[T́ khưu nào] có sự thuần thục khéo léo trong bảy lĩnh vực, và [thạo] ba loại quán nghĩa th́ rốt ráo ở trong Pháp (Phật) này mà được lậu tận, được tâm giải thoát vô lậu, được tuệ giải thoát, ngay trong đời này có thể tự biết ḿnh đă chứng được chỗ cụ túc (viên măn): sự sanh của (cái) ta đă dứt, Phạn hạnh đă lập, điều cần làm đă làm, tự biết không c̣n lănh thọ đời sau nữa.

 

“T́ khưu khéo léo trong bảy lĩnh vực là như thế nào? T́ khưu biết như thực về sắc, biết như thực sự tập thành của sắc, … sự chấm dứt (diệt) của sắc, … con đường đưa đến sự chấm dứt sắc, … vị hấp dẫn của sắc, … mối hoạn nạn từ sắc, … sự tách ĺa sắc. Cũng vậy, biết như thực thọ, … tưởng, … hành, … thức, … sự tập thành của thức, … sự chấm dứt của thức, … con đường đưa đến sự chấm dứt thức, … vị hấp dẫn của thức, … mối hoạn nạn từ thức, … sự tách ĺa thức.

 

“Thế nào là biết như thực về sắc? Những ǵ có h́nh sắc: Tứ đại và các h́nh sắc do tứ đại tạo nên, tất cả đều gọi là sắc. Sắc như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tập thành của sắc? Sự ham thích [nơi sắc] gọi là sự tập thành của sắc. Sự tập thành của sắc như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự chấm dứt của sắc? Sự ham thích [nơi sắc] diệt gọi là sự chấm dứt của sắc. Sắc diệt như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực con đường đưa đến sự chấm dứt sắc? Tám thánh đạo: chính kiến, chính chí, chính ngữ, chính mạng, chính nghiệp, chính phương tiện, chính niệm, chính định; đó gọi là con đường đưa đến sự chấm dứt sắc. Con đường đưa đến sự chấm dứt sắc như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực vị hấp dẫn của sắc? Hỷ lạc do duyên vào nhân sắc mà phát khởi. Đó gọi là vị hấp dẫn của sắc. Vị hấp dẫn của sắc như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực mối hoạn nạn từ sắc? Sự kiện sắc là pháp vô thường, (có tính chất gây) khổ, và đổi dời gọi là mối hoạn nạn từ sắc. Hoạn nạn từ sắc như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tách ly đối với sắc? Sự kiện đối với sắc mà điều phục được ḷng tham muốn, dứt bỏ được ḷng tham muốn, vượt lên trên ḷng tham muốn gọi là sự tách ly đối với sắc. Sự tách ly đối với sắc như vậy, biết thực như vậy.

 

“Thế nào là biết như thực về thọ? Có sáu h́nh thái thọ (thọ thân): thọ phát sinh từ sự tiếp xúc của mắt, thọ phát sinh từ sự tiếp xúc của tai… mũi… lưỡi… thân… ư; đó gọi là thọ. Thọ như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tập thành của thọ? Sự tập thành của xúc là sự tập thành của thọ. Sự tập thành của thọ như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự chấm dứt của thọ? Sự chấm dứt của xúc là sự chấm dứt của thọ. Sự chấm dứt của thọ như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực con đường đưa đến sự chấm dứt thọ? Tám thánh đạo từ chính kiến cho đến chính định; đó gọi là con đường đưa đến sự chấm dứt thọ. (** Đại Chính 2. 10 giữa.) Con đường đưa đến sự chấm dứt thọ như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực vị hấp dẫn của thọ? Hỉ lạc do duyên vào sáu thọ mà phát khởi, đó gọi là vị hấp dẫn của thọ. Vị hấp dẫn của thọ như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực mối hoạn nạn từ thọ? Sự kiện thọ là pháp vô thường, (có tính chất gây) khổ, và đổi dời gọi là mối hoạn nạn từ thọ. Hoạn nạn từ thọ như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tách ly đối với thọ? Đối với thọ mà điều phục được ḷng tham muốn, dứt bỏ được ḷng tham muốn, vượt lên trên ḷng tham muốn gọi là sự tách ly đối với thọ. Sự tách ly đối với thọ như vậy, biết thực như vậy.

 

 “Thế nào là biết như thực về tưởng? Có sáu tưởng: tưởng phát sinh từ sự xúc chạm của mắt, tưởng phát sinh từ sự xúc chạm của tai… mũi… lưỡi… thân… ư, đó gọi là tưởng. Tưởng như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực về sự tập thành của tưởng? Sự tập thành của xúc là sự tập thành của tưởng. Sự tập thành của tưởng là như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự chấm dứt của tưởng Sự chấm dứt của xúc là sự chấm dứt của tưởng. Sự chấm dứt của tưởng như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực con đường đưa đến sự chấm dứt tưởng? Tám thánh đạo từ chính kiến cho đến chính định; đó gọi là con đường đưa đến sự chấm dứt tưởng. Con đường đưa đến sự chấm dứt tưởng như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực vị hấp dẫn của tưởng? Hỉ lạc do duyên vào sáu tưởng mà phát khởi, đó gọi là vị hấp dẫn của tưởng. Vị hấp dẫn của tưởng như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực mối hoạn nạn từ tưởng? (Sự kiện) tưởng là pháp vô thường, (có tính chất gây) khổ, và đổi dời gọi là mối hoạn nạn từ tưởng. Hoạn nạn từ tưởng như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tách ly đối với tưởng? Đối với tưởng mà điều phục được ḷng tham muốn, dứt bỏ được ḷng tham muốn, vượt lên trên ḷng tham muốn gọi là sự tách ly đối với tưởng. Sự tách ly đối với tưởng như vậy, biết thực như vậy.

 

“Thế nào là biết như thực về hành? Có sáu h́nh thái tư niệm (tư thân): ư hướng (tư) phát khởi qua sự tiếp xúc của mắt, ư hướng phát khởi qua sự tiếp xúc của tai… mũi… lưỡi… thân… ư; đó gọi là hành. Hành như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tập thành của hành? Sự tập thành của xúc là sự tập thành của hành. Sự tập thành của hành là như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự chấm dứt của hành Sự chấm dứt của xúc là sự chấm dứt của hành. Sự chấm dứt của hành như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực con đường đưa đến sự chấm dứt hành? Tám thánh đạo từ chính kiến cho đến chính định; đó gọi là con đường đưa đến sự chấm dứt hành. Con đường đưa đến sự chấm dứt hành như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực vị hấp dẫn của hành? Hỉ lạc do duyên vào hành mà phát khởi, đó gọi là vị hấp dẫn của hành. Vị hấp dẫn của hành như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực mối hoạn nạn từ hành? (Sự kiện) hành là pháp vô thường, (có tính chất gây) khổ, và đổi dời gọi là mối hoạn nạn từ hành. Hoạn nạn từ hành như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tách ly đối với hành? Đối với hành mà điều phục được ḷng tham muốn, dứt bỏ được ḷng tham muốn, vượt lên trên ḷng tham muốn gọi là sự tách ly đối với hành. Sự tách ly đối với hành như vậy, biết thực như vậy.

 

“Thế nào là biết như thực về thức? Có sáu h́nh thái thức (thức thân): (** Đại Chính 2. 10 dưới) h́nh thái thức của mắt, h́nh thái thức của tai… mũi… lưỡi… thân… ư. Đó là gọi là thức thân. Thức thân như vậy, biết thực như vậy.

Thế nào là biết như thực sự tập thành của thức? Sự tập thành của danh sắc là sự tập thành của thức. Sự tập thành của thức là như vậy, biết thực như vậy.

Thế nào là biết như thực sự chấm dứt của thức? Sự chấm dứt của danh sắc là sự chấm dứt của thức. Sự tập thành của thức là như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực con đường đưa đến sự chấm dứt thức? Tám thánh đạo từ chính kiến cho đến chính định; đó gọi là con đường đưa đến sự chấm dứt thức. Con đường đưa đến sự chấm dứt thức như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực vị hấp dẫn của thức? Hỉ lạc do duyên vào thức mà phát khởi, đó gọi là vị hấp dẫn của thức. Vị hấp dẫn của thức như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực mối hoạn nạn từ thức? Sự kiện thức là pháp vô thường, (có tính chất gây) khổ, và đổi dời gọi là mối hoạn nạn từ thức. Hoạn nạn từ thức như vậy, biết thực như vậy.

“Thế nào là biết như thực sự tách ly đối với thức? Đối với thức mà điều phục được ḷng tham muốn, dứt bỏ được ḷng tham muốn, vượt lên trên ḷng tham muốn gọi là sự tách ly đối với thức. Sự tách ly đối với thức như vậy, biết thực như vậy.

 

“T́ kheo! Đó gọi là [t́ khưu] thuần thục khéo léo nơi bảy lĩnh vực.

 

“Thế nào là [t́ khưu thạo] ba loại quán nghĩa? Trường hợp một t́ khưu ở nơi vắng vẻ, dưới gốc cây, hay đồng trống quán sát ấm, giới, nhập[1], chiêm nghiệm nghĩa của chúng bằng phương tiện (nỗ lực) đúng đắn. Đó gọi là t́ khưu [thực tập] ba loại quán nghĩa.

 

“Đó gọi là t́ kheo thuần thục khéo léo nơi bảy lĩnh vực, và [thạo] ba loại quán nghĩa, rốt ráo ở trong Pháp (Phật) này mà được lậu tận, được tâm giải thoát vô lậu, được tuệ giải thoát, ngay trong đời này có thể tự biết ḿnh đă chứng được chỗ cụ túc (viên măn): sự sanh của (cái) ta đă dứt, Phạn hạnh đă lập, điều cần làm đă làm, tự biết không c̣n lănh thọ đời sau nữa.

 

Phật thuyết kinh này xong, các t́ kheo nghe Phật giảng rồi, hoan hỉ phụng hành.

 


 

[1] Nguyên bản: 陰.界.入. Kinh Pali tương đương: dhātuso (giới hay ‘đại’ trong 7 đại: đất, nước, gió, lửa, thời, không, thức), āyatanaso (xứ hay 6 căn và 6 trần tức lục nhập), paṭiccasamuppādaso (duyên khởi.) Trong bản Kinh này, ấm là 5 thủ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), giới là 6 căn và sáu trần, và nhập có lẽ là quá tŕnh Xúc, Thọ, Ái, Thủ trong 12 Nhân Duyên. Kinh SN 12.11 Ahara (Thực, chất nuôi dưỡng) liệt kê Thực ở vị trí Thủ (upadana) có nghĩa đen là đưa vào, nhập vào trong người (uptake.) Nghĩa là Thủ đồng nghĩa với quá tŕnh đưa vào bốn loại thức ăn (tứ thực: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực) là chất nuôi dưỡng hữu và sinh tử. Lưu ư từ Ái (tanha, craving) cũng có nghĩa là ‘khát’. Từ đói khát mà có nhập vào thức ăn (thực.) Chữ ‘nhập’ trong bản chữ Hán có thể là dịch từ chữ upadana (Thủ, nhập) này, nhưng cũng có thể là chỉ chung cho quá tŕnh từ xúc đến thủ. Theo chú giải của quư Thầy Nam Tông Từ Xúc (phassa) không chú trọng đến sự tiếp xúc vật lư, mà là xúc là một trong 7 (hay 5) tâm sở biến hành (cetasika) và thuộc về Hành Ấm, là một trong Tứ Thực. Kinh MN.18 định nghĩa xúc là do sự đến với nhau của 3 yếu tố căn, trần và thức mà khởi. Xúc (sense-impression) là chỉ một tạo tác của tâm (hành) hơn là sự tiếp xúc vật lư. [GN]

 

Âm Hán Việt:

42. Như thị ngă văn:

Nhất thời Phật trụ Xá Vệ Quốc Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên. Nhĩ thời Thế Tôn cáo chư t́ kheo:

- “Hữu thất xứ thiện, tam chủng quán nghĩa, tận ư thử pháp đắc lậu tận, đắc vô lậu tâm giải thoát, huệ giải thoát, hiện pháp tự tri thân tác chứng cụ túc trụ: ngă sinh dĩ tận, Phạn hạnh dĩ lập, sở tác dĩ tác, tự tri bất thọ hậu hữu. Vân hà t́ kheo thất xứ thiện? T́ kheo, như thực tri sắc, sắc tập, sắc diệt, sắc diệt đạo tích, sắc vị, sắc hoạn, sắc ly như thực tri. Như thị thọ tưởng hành thức, thức tập, thức diệt, thức diệt đạo tích, thức vị, thức hoạn, thức ly như thực tri.

“Vân hà sắc như thực tri? Chư sở hữu sắc, nhất thiết tứ đại cập tứ đại tạo tác, thị danh vi sắc. Như thị sắc như thực tri. Vân hà sắc tập như thực tri? Ái hỉ thị danh sắc tập. Như thị sắc tập như thực tri. Vân hà sắc diệt như thực tri? Ái hỉ diệt thị danh sắc diệt. Như thị sắc diệt như thực tri. Vân hà sắc diệt đạo tích như thực tri? Vị bát thánh đạo, chính kiến, chính chí, chính ngữ, chính mệnh, chính nghiệp, chính phương tiện, chính niệm, chính định. Thị danh sắc diệt đạo tích. Như thị sắc diệt đạo tích như thực tri. Vân hà sắc vị như thực tri? Vị sắc nhân duyên sinh hỉ lạc, thị danh sắc vị. Như thị sắc vị như thực tri. Vân hà sắc hoạn như thực tri? Nhược sắc vô thường khổ biến dịch pháp, thị danh sắc hoạn. Như thị sắc hoạn như thực tri. Vân hà sắc ly như thực tri? Vị ư sắc điều phục dục tham, đoạn dục tham, việt dục tham, thị danh sắc ly. Như thị sắc ly như thực tri.

“Vân hà thọ như thực tri? Vị lục thọ, nhăn xúc sinh thọ, nhĩ tị thiệt thân ư xúc sinh thọ, thị danh thọ. Như thị thọ như thực tri. Vân hà thọ tập như thực tri? Xúc tập thị thọ tập. Như thị thọ tập như thực tri. Vân hà thọ diệt như thực tri? Xúc diệt thị thọ diệt. Như thị thọ diệt như thực tri. Vân hà thọ diệt đạo tích như thực tri? Vị bát thánh đạo, chính kiến năi chí chính định. Thị danh thọ diệt đạo tích. Như

(** Đại Chính nhị. 10 trung)

thị thọ diệt đạo tích như thực tri. Vân hà thọ vị như thực tri? Thọ nhân duyên sinh hỉ lạc, thị danh thọ vị. Như thị thọ vị như thực tri. Vân hà thọ hoạn như thực tri? Nhược thọ vô thường khổ biến dịch pháp, thị danh thọ hoạn. Như thị thọ hoạn như thực tri. Vân hà thọ ly như thực tri? Vị ư thọ điều phục dục tham, đoạn dục tham, việt dục tham, thị danh thọ ly. Như thị thọ ly như thực tri.

“Vân hà tưởng như thực tri? Vị lục tưởng, nhăn xúc sinh tưởng, nhĩ tị thiệt thân ư xúc sinh tưởng, thị danh vi tưởng. Như thị tưởng như thực tri. Vân hà tưởng tập như thực tri? Xúc tập thị tưởng tập. Như thị tưởng tập như thực tri. Vân hà tưởng diệt như thực tri? Xúc diệt thị tưởng diệt. Như thị tưởng diệt như thực tri. Vân hà tưởng diệt đạo tích như thực tri? Vị bát thánh đạo, chính kiến năi chí chính định. Thị danh tưởng diệt đạo tích. Như thị tưởng diệt đạo tích như thực tri. Vân hà tưởng vị như thực tri? Tưởng nhân duyên sinh hỉ lạc, thị danh tưởng vị. Như thị tưởng vị như thực tri. Vân hà tưởng hoạn như thực tri? Nhược tưởng vô thường khổ biến dịch pháp, thị danh tưởng hoạn. Như thị tưởng hoạn như thực tri. Vân hà tưởng ly như thực tri? Vị ư tưởng điều phục dục tham, đoạn dục tham, việt dục tham, thị danh tưởng ly. Như thị tưởng ly như thực tri.

“Vân hà hành như thực tri? Vị lục tư thân, nhăn xúc sinh tư, nhĩ tị thiệt thân ư xúc sinh tư, thị danh vi hành. Như thị hành như thực tri. Vân hà hành tập như thực tri? Xúc tập thị hành tập. Như thị hành tập như thực tri. Vân hà hành diệt như thực tri? Xúc diệt thị hành diệt. Như thị hành diệt như thực tri. Vân hà hành diệt đạo tích như thực tri? Vị bát thánh đạo, chính kiến năi chí chính định. Thị danh hành diệt đạo tích. Như thị hành diệt đạo tích như thực tri. Vân hà hành vị như thực tri? Hành nhân duyên sinh hỉ lạc, thị danh hành vị. Như thị hành vị như thực tri. Vân hà hành hoạn như thực tri? Nhược hành vô thường khổ biến dịch pháp, thị danh hành hoạn. Như thị hành hoạn như thực tri. Vân hà hành ly như thực tri? Vị ư hành điều phục dục tham, đoạn dục tham, việt dục tham, thị danh hành ly. Như thị hành ly như thực tri.

“Vân hà thức như thực tri? Vị lục thức thân, nhăn

(** Đại Chính nhị. 10 hạ)

thức, nhĩ tị thiệt thân ư thức thân, thị danh vi thức. Như thị thức như thực tri. Vân hà thức tập như thực tri? Danh sắc tập thị thức tập. Như thị thức tập như thực tri? Vân hà thức diệt như thực tri? Danh sắc diệt thị thức diệt. Như thị thức diệt như thực tri. Vân hà thức diệt đạo tích như thực tri? Vị bát thánh đạo, chính kiến năi chí chính định. Thị danh thức diệt đạo tích. Như thị thức diệt đạo tích như thực tri. Vân hà thức vị như thực tri? Thức nhân duyên sinh hỉ lạc, thị danh thức vị. Như thị thức vị như thực tri. Vân hà thức hoạn như thực tri? Nhược thức vô thường khổ biến dịch pháp, thị danh thức hoạn. Như thị thức hoạn như thực tri. Vân hà thức ly như thực tri? Vị ư thức điều phục dục tham, đoạn dục tham, việt dục tham, thị danh thức ly. Như thị thức ly như thực tri.

“T́ kheo! Thị danh thất xứ thiện. Vân hà tam chủng quán nghĩa? T́ kheo, nhược ư không nhàn, thọ hạ, lộ địa, quán sát ấm, giới, nhập, chính phương tiện tư duy kỳ nghĩa, thị danh t́ kheo tam chủng quán nghĩa. Thị danh t́ kheo thất xứ thiện, tam chủng quán nghĩa. Tận ư thử pháp đắc lậu tận, đắc vô lậu tâm giải thoát, huệ giải thoát, hiện pháp tự tri tác chứng cụ túc trụ, ngă sinh dĩ tận, Phạn hạnh dĩ lập, sở tác dĩ tác, tự tri bất thọ hậu hữu.”

Phật thuyết thử kinh dĩ, chư t́ kheo văn Phật sở thuyết, hoan hỉ phụng hành.

 

Bản dịch Anh Ngữ

Trang trước | trang kế

Trang trước | trang kế

TẬP 1

Lời dẫn

QUYỂN 1  (SA 0001-0032)
 

QUYỂN 2 (SA 0033-0058)

SA 0033   Phi Ngă
SA 0034   Phi Ngă giảng cho Năm T́ Khưu
SA 0035  Giảng cho ba người họ Thích

SA 0036 Hải đảo tự thân
SA 0037 Tự trần
SA 0038 Từ Thấp Lên Cao
SA 0039 Nhân giống
SA 0040 Ngăn trở
SA 0041 Ngũ Chuyển
SA 0042 Bảy Lĩnh Vực Căn Bản
SA 0043 Thủ Trước
SA 0044 Hệ Trước
SA 0045 Nhận Thức
SA 0046 Ba Đời Bị Ấm Ăn
SA 0047 Thiện Tín 1
SA 0048 Thiện Tín 2
SA 0049 A Nan Đà 1
SA 0050 A Nan Đà 2
SA 0051 Hoại Pháp
SA 0052 Uất Để Ca
SA 0053 Bà La Môn
SA 0054 Thế gian
SA 0055 Ấm
SA 0056 Lậu & Vô Lậu Pháp
SA 0057 Lậu Tận
SA 0058 Ấm Căn

QUYỂN 3 (SA 0059-0087)

QUYỂN 4 (SA 0088-0102)

QUYỂN 5 (SA0103-0110)

QUYỂN 6 (SA 0110-138)

QUYỂN 7 (SA 0139-0187)

QUYỂN  8 (SA 0188-0229)

QUYỂN 9 (SA 0230-0255)

QUYỂN  10 (SA 0256-0272)

QUYỂN 11 (SA 0273-0282)

QUYỂN 12 (SA 0283-0303)

QUYỂN 13 (SA0304-0342)

 

Tập1|Tập2 | Tập3|Tập4