TẠP A HÀM  -- Tập 1

Quyển 2

雜 阿 含 經


Trở về trang chủ

Kinh SA(0043) Thủ Trước -- (SN22.7 Upadaparitassana– PTS: {S iii 15})[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật trú tại nước Xá Vệ, ở rừng cây của thái tử Kỳ Đà, nơi vườn Cấp Cô Độc. Lúc đó Thế Tôn nói với các t́ kheo:

- “Hăy lắng nghe cho kỹ và chiêm nghiệm cho khéo léo, tôi sẽ v́ các thầy mà nói về nhiệt năo phát sinh do bám víu[2], và không nhiệt năo do không bám víu.”

T́ kheo bạch Phật:

- “Vâng, chúng con xin tiếp nhận lời dạy.”

Phật nói với các t́ kheo:

- “Thế nào là nhiệt năo phát sinh do bám víu? Phàm phu ngu si ít học, đối với sắc thấy đó là ngă, là đặc thù của ngă[3], là tương tại với ngă (có ngă trong sắc, có sắc trong ngă). Thấy sắc là ngă, là thuộc về ngă nên bám víu vào. Bám víu vào rồi,  nếu sắc biến đổi, hay khác đi, th́ tâm cũng phải động theo. Bởi  tâm động theo, nên sinh ra bị thủ trước - tức nhiệt năo của sự bám víu - xâm chiếm lấy tâm[4]. Do (nhiệt năo) xâm chiếm lấy tâm, nên người ấy sinh ra lo sợ, bị ngăn trở, và loạn tâm; đó là v́ thủ trước - tức nhiệt năo của sự bám víu - vậy.

“Phàm phu ngu si ít học, đối với thọ… tưởng… hành… thức thấy đó là ngă, là đặc thù của ngă, là cái này trong cái kia. Thấy thức là ngă, là thuộc về ngă nên bám víu. Bám víu rồi, nếu thức ấy biến đổi, hay khác đi, tâm người ấy cũng phải động theo. Bởi  tâm động theo, nên sinh ra bị thủ trước - tức nhiệt năo của sự bám víu - xâm chiếm lấy tâm. Do (nhiệt năo) xâm chiếm lấy tâm,

(** Đại Chính hai. 11 trên)

nên người ấy sinh ra lo sợ, bị ngăn trở, và loạn tâm; đó là v́ thủ trước – nhiệt năo của sự bám víu - vậy. Đó gọi là thủ trước - nhiệt năo phát sinh từ sự bám víu.

“Thế nào là không nhiệt năo do không bám víu? Đệ tử đa văn của bậc thánh đối với sắc không thấy đó là ngă, là đặc thù của ngă, là tương tại với ngă (có ngă trong sắc, có sắc trong ngă). Không thấy sắc là ngă, là thuộc về ngă để bám víu vào, nên nếu sắc biến đổi, hay khác đi, tâm chẳng bị động theo. Bởi tâm chẳng động theo, nên chẳng sinh ra bị thủ trước - tức nhiệt năo của sự bám víu - xâm chiếm lấy tâm. Do (nhiệt năo) chẳng xâm chiếm lấy tâm, nên người ấy chẳng sinh ra lo sợ, bị ngăn trở, hay loạn tâm; đó là v́ không bị thủ trước vậy.

“Cũng vậy, nơi thọ… tưởng… hành… thức không thấy đó là ngă, là đặc thù của ngă, là cái này trong cái kia. Không thấy thức là ngă, là thuộc về ngă để bám víu vào, nên nếu nếu thức ấy biến đổi, hay khác đi, tâm người ấy chẳng bị động theo[5]. Bởi  tâm chẳng động theo, nên chẳng sinh ra bị thủ trước - tức nhiệt năo của sự bám víu - xâm chiếm lấy tâm. Do (nhiệt năo) chẳng xâm chiếm lấy tâm, nên người ấy chẳng sinh ra lo sợ, bị ngăn trở, hay loạn tâm; đó là v́ không bị thủ trước vậy. Đó gọi là không thủ trước – hay không nhiệt năo do không bám víu.

Đó là thủ trước và bất thủ trước (hay nhiệt năo do bám víu và không nhiệt năo do không bám víu)”

Phật thuyết kinh này xong, các t́ kheo nghe Phật giảng rồi, hoan hỉ phụng hành.


 

[1] Tên kinh Pali tương đương Upadaparitassana có nghĩa là sự lo lắng phát sinh từ sự bám víu. Upada có gốc từ chữ upadana: có nghĩa là bám (thủ) để tiếp tục duy tŕ (như ngọn lửa bám vào chất đốt, cây bám vào đất), cũng có nghĩa là nguyên liệu (chất đốt), chất nuôi dưỡng. Paritassana có gốc từ động từ paritassati nghĩa là lo sợ (to fear), bồn chồn, thèm khát, bám trết vào (to crave). [GN]

[2] Câu ‘Thủ cố sinh trước’ (取故生著) có thể dịch là ‘Do chấp thủ nên sinh đắm trước’ như 2 bản dịch đă có (của HT Thanh Từ và của TT Đức Thắng). Tuy nhiên, ‘đắm trước’ thường được hiểu là bám víu, và ở đoạn dưới hai bản này đều dịch chữ ‘thủ trước’ là ‘chấp thủ’ (nắm giữ.) Như vậy mệnh đề ‘Do chấp thủ nên sinh đắm trước’ là hai mệnh đề có nghĩa giống nhau (‘Do A nên sinh A.’) Trong đoạn kinh dưới, đức Phật hỏi 云何取故生著 (‘vân hà thủ cố sinh trước’), hai bản này đều dịch “Thế nào là do chấp thủ nên sinh đắm trước’ và câu trả lời lại giải thích là do chấp thủ nên sinh ra sợ hăi, bất an, và kết luận: đó gọi là ‘thủ trước’, - không dính ǵ đến câu hỏi này.

V́ chỗ không hợp lư này, chúng tôi đă tra cứu thêm tự điển MDBG Chinese – English và t́m thấy các nghĩa cổ mà tự điển Thiều Chửu và Đào Duy Anh không có. (tùy theo nghĩa được đọc là trứ (zhu), trước (zhuo) zhe (đọc như ‘trựa’), zhao (đọc như ‘trảo’)) c̣n có nghĩa là: chụp nắm, khổ, bị ảnh hưởng, bắt lửa, cháy – ngày nay viết theo lối giản tự là (đọc là zhao) Ch   hiểu theo nghĩa ‘bị ảnh hưởng, bắt lửa, cháy, hay khổ’ là phù hợp với lời giải thích của đức Phật bên dưới về phiền năo do bám víu. Chúng ta biết: khái niệm của người Ấn Độ cổ cho rằng ngọn lửa cháy là ngọn lửa bị cột buộc, bám víu vào chất đốt nên không có tự do. Niết Bàn nghĩa đen là ngọn lửa tắt ngấm, biểu trưng cho sự tự do, không ràng buộc của ngọn lửa.

Ch́a khoá thứ hai để giải mă chỗ gút mắc này là: ‘thủ trước’ trong câu trả lời của đức Phật là một danh từ, đồng nghĩa với cụm từ ‘thủ cố sinh trước.’ Lư do nằm ở chỗ đức Phật hỏi thế nào là ‘thủ cố sinh trước’, và ngài trả lời: … đó gọi là ‘thủ trước’ (thị danh thủ trước.) Như vậy ‘trước’ và ‘thủ’ trong ‘thủ trước’ có liên hệ nhân quả ‘trước do thủ sinh ra’. Trước như đă giải mă ở trên, có nghĩa là phiền năo (khổ), hay sự bốc cháy. Và như vậy cụm từ ‘thủ cố sinh trước’ cũng như ‘thủ trước’ đều nên dịch là ‘nhiệt năo hay phiền nhiệt phát sinh từ sự bám víu.’ [GN]

[3] Nguyên bản: 異我 (dị ngă). Các bản dịch khác là ‘khác ngă.’ Tuy nhiên, ‘khác ngă’ thường được hiểu là ‘không phải ngă’ dễ lầm với các đoạn Kinh nói 5 uẩn là không phải ngă (phi ngă.) Chúng ta để ư thấy ‘phi ngă’ và ‘dị ngă’ là 2 khái niệm khác nhau. Phi ngă đơn giản là ‘không phải là ngă.’ C̣n ‘dị ngă’ là một ư niệm chấp ngă, nói ngă là khác, c̣n sắc (thọ tưởng hành thức) là khác nhưng là một thuộc tính của ngă, cho rằng ‘nhờ 5 uẩn mà tôi biết có ngă’ (như cách nói của Descartes ‘tôi suy nghĩ nên tôi hiện hữu.’) ‘Dị’ ở đây có nghĩa là nét riêng, nét đặc thù, nhờ đó mà tôi khác mọi người. Chúng ta sẽ thấy ư này khi đọc câu Kinh tiếp nối. [GN]

[4] Khi một người có địa vị, nhà cửa, anh ta nắm chặt lấy chúng. Anh ta muốn giữ chúng nguyên trạng, đó là giữ tâm dừng lại ở một chỗ, không muốn nó đổi thay. — trên nói tâm phải động theo (nguyên bản là chuyển theo), là nói tâm bị dao động v́ sắc đổi thay, chứ không phải nói người đó uyển chuyển theo hoàn cảnh. Chính người này chấp chặt, không uyển chuyển theo hoàn cảnh. [TC]

攝受心住 (nhiếp thọ tâm trụ) có người dịch là ‘giữ tâm trụ lại một chỗ’ hay ‘nắm giữ tâm mà trụ.’ Tuy nhiên ở phần dưới khi nói về sự không bám víu, nguyên bản chữ hán nói ‘bất sinh thủ trước, nhiếp thọ tâm trụ’ (không có chữ ‘bất’ trước ‘nhiếp thọ tâm trụ’) th́ các bản dịch này đều cho thêm chữ ‘không’ để dịch là ‘không nhiếp thọ tâm trụ.’ Dịch như vậy có vẻ tùy tiện, ngược với nguyên bản. Chúng tôi hiểu ‘nhiếp thọ tâm trụ’ là (nhiệt năo) cứ trụ măi trong tâm, xâm chiếm lấy tâm; và cách hiểu này có thể áp dụng trong đoạn ‘bất sinh thủ trước, nhiếp thọ tâm trụ’ hoàn toàn suông sẻ. [GN]

[5] Tâm người này đă định, không bị chao động. Mà định đây không có nghĩa là chấp chặt, chính người này uyển chuyển theo hoàn cảnh. [TC]

 

Âm Hán Việt:

43. Như thị ngă văn:

Nhất thời Phật trụ Xá Vệ Quốc Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên. Nhĩ thời Thế Tôn cáo chư t́ kheo:

- “Thủ cố sinh trước, bất thủ tắc bất trước, đế thính thiện tư, đương vi nhữ thuyết.”

T́ kheo bạch Phật:

- “Duy nhiên thọ giáo.”

Phật cáo t́ kheo:

- “Vân hà thủ cố sinh trước? Ngu si vô văn phàm phu, ư sắc kiến thị ngă, dị ngă, tương tại. Kiến sắc thị ngă, ngă sở nhi thủ. Thủ dĩ bỉ sắc nhược biến, nhược dị tâm diệc tùy chuyển. Tâm tùy chuyển dĩ, diệc sinh thủ trước, nhiếp thọ tâm trụ. Nhiếp thọ tâm trụ cố, tắc sinh khủng bố, chướng ngại, tâm loạn, dĩ thủ trước cố. Ngu si vô văn phàm phu, ư thọ tưởng hành thức kiến ngă dị ngă tương tại, kiến thức thị ngă ngă sở nhi thủ. Thủ dĩ bỉ thức nhược biến, nhược dị, bỉ tâm  tùy chuyển. Tâm tùy chuyển cố, tắc sinh thủ trước, nhiếp thọ tâm trụ. Trụ dĩ tắc

(** Đại Chính nhị. 11 thượng)

sinh khủng bố, chướng ngại, tâm loạn, dĩ thủ trước cố. Thị danh thủ trước.

“Vân hà danh bất thủ bất trước? Đa văn thánh đệ tử ư sắc bất kiến ngă dị ngă tương tại. Ư sắc bất kiến ngă, ngă sở nhi thủ. Bất kiến ngă, ngă sở nhi thủ sắc, bỉ sắc nhược biến nhược dị, tâm bất tùy chuyển. Tâm bất tùy chuyển cố, bất sinh thủ trước, nhiếp thọ tâm trụ. Bất nhiếp thọ trụ cố, tắc bất sinh khủng bố, chướng ngại, tâm loạn. Bất thủ trước cố. Như thị thọ tưởng hành thức, bất kiến ngă dị ngă tương tại. Bất kiến ngă, ngă sở nhi thủ, bỉ thức nhược biến nhược dị, tâm bất tùy chuyển. Tâm bất tùy chuyển cố, bất sinh thủ trước, nhiếp thọ tâm trụ. Bất nhiếp thọ trụ cố, tắc bất sinh khủng bố, chướng ngại, tâm loạn, dĩ bất thủ trước cố. Thị danh bất thủ trước.

Thị danh thủ trước, bất thủ trước.”

Phật thuyết thử kinh dĩ, chư t́ kheo văn Phật sở thuyết, hoan hỉ phụng hành.

 

Bản dịch Anh Ngữ

Trang trước | Trang kế

Trang trước | Trang kế

TẬP 1

Lời dẫn

QUYỂN 1  (SA 0001-0032)
 

QUYỂN 2 (SA 0033-0058)

SA 0033   Phi Ngă
SA 0034   Phi Ngă giảng cho Năm T́ Khưu
SA 0035  Giảng cho ba người họ Thích

SA 0036 Hải đảo tự thân
SA 0037 Tự trần
SA 0038 Từ Thấp Lên Cao
SA 0039 Nhân giống
SA 0040 Ngăn trở
SA 0041 Ngũ Chuyển
SA 0042 Bảy Lĩnh Vực Căn Bản
SA 0043 Thủ Trước
SA 0044 Hệ Trước
SA 0045 Nhận Thức
SA 0046 Ba Đời Bị Ấm Ăn
SA 0047 Thiện Tín 1
SA 0048 Thiện Tín 2
SA 0049 A Nan Đà 1
SA 0050 A Nan Đà 2
SA 0051 Hoại Pháp
SA 0052 Uất Để Ca
SA 0053 Bà La Môn
SA 0054 Thế gian
SA 0055 Ấm
SA 0056 Lậu & Vô Lậu Pháp
SA 0057 Lậu Tận
SA 0058 Ấm Căn

QUYỂN 3 (SA 0059-0087)

QUYỂN 4 (SA 0088-0102)

QUYỂN 5 (SA0103-0110)

QUYỂN 6 (SA 0110-138)

QUYỂN 7 (SA 0139-0187)

QUYỂN  8 (SA 0188-0229)

QUYỂN 9 (SA 0230-0255)

QUYỂN  10 (SA 0256-0272)

QUYỂN 11 (SA 0273-0282)

QUYỂN 12 (SA 0283-0303)

QUYỂN 13 (SA0304-0342)

 

Tập1|Tập2 | Tập3|Tập4