|
Phẩm 1 | 2 | 3 | 4 | 5
Phẩm 4: Bát cú
Sn 4.5
Tối Thượng
|
|
Sn 4.5 - PTS: Sn 796-803
Paramatthaka Sutta
Tối
Thượng
(Việt dịch: TKN Giải Nghiêm, từ bản Pali-English
của T́ Khưu Thanissaro. Xin chỉ dùng phát tặng không, không bán.)
Khi trụ
vào (thủ) kiến
xem đó
là “tối thượng,”
người ta
xem kiến ấy
là nhất hạng trên đời
cho nên
mọi kiến khác
đều gọi là thấp hơn,
và v́
vậy người này
không thoát khỏi tranh chấp.
Thấy lợi
điểm của ḿnh
nơi những ǵ được thấy,
được nghe, hay cảm nhận,
hay trong chỗ hành tŕ
giới cấm và phép tu,
bèn chấp
trước vào đó
xem mọi người thấp hơn.
Những ǵ
ḿnh ỷ vào
để xem nguời thấp hơn,
bậc
thiện đều bảo đó
là nút kết ràng buộc.
Do vậy
một t́ khưu
không
nên ỷ cậy vào
cái được thấy, được nghe,
hay cái được cảm nhận,
hay nơi chỗ hành tŕ
giới cấm và phép tu,
cũng
không nên tạo ra
một ảo
kiến trong đời
liên quan đến tri kiến,
giới cấm và phép tu;
không
nên cho ḿnh “bằng”;
không
nên nghĩ ḿnh thua
hay cao hơn tất cả.
Từ bỏ
những ǵ ḿnh
ôm chặt, cho là ngă[1]
không c̣n bám víu nữa,
vị ấy
không để ḿnh
ỷ vào hay lệ thuộc
cho dù về tri kiến;
không
hùa theo phe phái
giữa những người chia rẽ;
không
phải vin tựa
vào
bất cứ một kiến nào.
Người
không bị nghiêng ngả
về biên
kiến - hữu _ vô,
đời
bên này - bên kia –
người
không có cứ điểm
khi xét đến những điều
tóm thâu trong giáo lư,
th́
không có mảy may
định kiến với những ǵ
được thấy, nghe, cảm nhận.
Do ai,
bởi điều ǵ
mà người
ấy có thể
bị liệt vào thế gian?
- một vị Bà La Môn
không theo các tưởng kiến.
Họ không
c̣n hoá huyễn,
không
mong mỏi khát khao,
không
bám dính vào đâu
kể cả với giáo pháp.
Một vị
Bà La Môn
không bị
dắt xỏ bởi
giới cấm hay hành tŕ,
đă vượt
qua bên kia
- Chân Như –
không rớt lại.
|