trở về trang Văn

 

trở về trang chủ

VĂN

 


BS Đỗ Hồng Ngọc
Mẹ cứ kỳ vọng vào con đi
Thư cho bé sơ sinh (thơ, song ngữ)
Gươm Báu Trao Tay
(viết về Kinh Kim Cang Bát Nhă)
Lời ngỏ
Lên đường
Thiền và sức khoẻ
Về mối quan hệ giữa thân và tâm

Giới thiệu sách của BS Đỗ Hồng Ngọc

 

(Trích từ tập sách Gươm Báu Trao Tay của BS Đỗ Hồng Ngọc, NXB Phương Đông)

1.     Lên đường

 

Khi tiếp cận với Kim Cang, tôi bỡ ngỡ và chưng hửng không ít. Lâu nay cứ nghe người ta đọc câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” như một câu thần chú để quên đi bao nội muộn phiền, rồi đọc Lục tổ Huệ Năng cũng thấy ngài kể chuyện một hôm đi bán củi, chỉ nghe lóm người ta đọc có câu kinh đó thôi mà đại ngộ, thế mà ḿnh càng nghe càng mơ hồ, mù tịt. Sau khi viết “Nghĩ Từ Trái Tim,” ghi lại những cảm nghĩ của ḿnh về Tâm Kinh Bát Nhă, tôi thấy h́nh như ḿnh cũng có được đôi chút hiểu biết nhưng vẫn c̣n lờ mờ nên muốn tiếp tục t́m hiểu thêm các kinh sách khác của Phật may ra sáng tỏ thêm chút ǵ chăng và nhờ đó mà có niềm tin để thực hành thấu đáo. Bởi biết là một chuyện, hiểu là một chuyện, c̣n từ biết đến tin đến làm và duy tŕ hành vi, nhận thức không phải dễ dàng. Cho nên trong Tâm Kinh, khi Bồ Tát Quán Tự Tại “hành thâm Bát Nhă” thấy được “ngũ uẩn giai không,” thoát mọi khổ đau ách nạn mừng rỡ reo lên “Bồ đề, Tát-bà-ha!” th́ Phật đă cảnh giác: Phải tiếp tục hành thâm. Hành thâm nữa. Chưa ăn thua ǵ đâu. Không được tự măn. Không được lơ là.

Tôi học Kim Cang không ngờ cũng thấy ghiền như khi học Tâm Kinh ngày trước. Đôi khi giật ḿnh, đôi khi sửng sốt, đôi khi bỡ ngỡ, đôi khi chưng hửng. Các kinh sách dù có nhiều truyền bản, nhưng rơ ràng là có một sự nhất quán, xuyên suốt, chỉ khác cách tiếp cận tùy “đối tượng đích” mà cách truyền đạt khác nhau chớ nguyên lư vẫn là một. Nắm được cái cốt lơi có thể bớt hoang mang, thấy được “chỗ vào” chăng?

Cái điều bỡ ngỡ và chưng hửng đầu tiên khi học Kim Cang là hy vọng được đọc, được nghe những lời hay ư đẹp, những khuôn vàng thước ngọc, những bài giảng uyên áo. Thế mà, trời ạ, Kim Cang lại đi kể ngay một chuyện rất đỗi b́nh thường, nếu không muốn nói là tầm thường nữa, chẳng ăn nhập vào đâu, đó là chuyện Phật tới giờ ăn, đói bụng, bèn mặc áo, ôm b́nh bát đi… khất thực, chẳng thèm nói lấy một tiếng, chẳng thèm ra oai tằng hắng lấy một tiếng! Nghĩ mà coi, giữa lúc có hằng ngàn người, cả các vị Đại Bồ Tát, A La Hán, các vị “chức sắc” và các đại đệ tử thân tín ngồi hồi hộp chờ nghe những lời giáo huấn sâu xa th́ Phật chẳng nói chẳng rằng, mặc áo, cầm b́nh bát, vào thành khất thực. Đến khi khất thực thấy vừa đủ rồi mới ung dung trở lại “hội trường,” bày ra ăn, ăn xong, thu dọn y bát đâu đó đàng hoàng rồi rửa chân sạch sẽ, ngồi xếp bằng… thở, nghĩ là … nhập định! Chẳng thèm nói lấy một tiếng. Chẳng thèm ban cho một chút huấn từ! Tôi tưởng tượng lúc đó nếu ḿnh cũng đang ngồi xớ rớ đâu đó, bên ngoài hành lang, dự thính, chờ nghe những lời thuyết giảng mà phát tức anh ách, cảm thấy hẫng, thất vọng. Bỗng dưng, Tu Bồ Đề xuất hiện. Ngồi giữa đám đông như mọi người bỗng ông đứng phắt dậy, cung kính cúi chào đúng nghi lễ với bậc Thế Tôn rồi cất lời ca ngợi: Thật tuyệt vời! Thật là tuyệt diệu! Thật xưa nay chưa từng có! Thế Tôn đă khéo léo dạy dỗ, khéo léo trao truyền, khéo léo gởi gấm cho các vị đang có mặt tại đây hôm nay! Lúc đó th́ quả thực mới bùng nổ bài học vừa được truyền trao mà chẳng ai ngờ! Lúc đó th́ sự chưng hửng đă trở thành nỗi áy náy. Chết rồi, năy giờ không để ư, không theo dơi kỹ bài giảng không lời kia của Đức Phật! May mà có Tu Bồ Đề phát hiện! Những người không để ư quan sát kỹ sẽ mất đi một cơ hội đáng tiếc!

Phật có cách dạy riêng của Ngài: không nói một lời mà chỉ làm cho coi. Đó là một phương pháp giáo dục rất mới mà bây giờ người ta gọi là “demonstration,” tức là biểu diễn, làm gương, làm cho bắt chước, một lối dạy kỹ năng sống (life skills) rất hiện đại. Một lần nữa cho thấy học Phật, tu Phật là làm chớ không phải nói. Làm trước, nói sau. Hoặc cũng chẳng cần nói. Ta hiểu v́ sao các vị thiền sư thường bắt học tṛ chẻ củi, nấu cơm, gánh nước, trồng rau, giă gạo… mà chẳng thèm dạy lấy một lời. Cho đến lúc nào học tṛ tự phát hiện ra một điều ǵ đó bức xúc trong tâm th́ mới dạy, cũng bằng một cách kỳ cục nào đó: có khi lật thuyền, có khi gơ đầu, có khi trả lời trớt quớt, có khi hỏi ấm ớ kiểu ông đưa tâm đây tôi an cho, làm cho học tṛ ngớ ra rồi… sực tỉnh cơn mê! Cuối khoá học, tṛ cũng không nhận được một bằng cấp nào của thầy để khoe, thầy cũng chả có ǵ để trao cho tṛ. Bới “Cái đó” sẵn có trong tṛ, thầy chỉ giúp tṛ tự phát hiện, tự chứng nghiệm, tự “giải quyết” lấy vấn đề của ḿnh. Đó gọi là tham vấn (counselling), một phương cách trị liệu tâm lư học và y học ngày nay. Người làm tham vấn ví như cô mụ đỡ đẻ, giúp bà mẹ có được cuộc đẻ mẹ tṛn con vuông chớ không thể đẻ thay bà mẹ. Đứa con có sẵn trong bụng mẹ rồi.

Trờ lại bài học, mọi người giật ḿnh, sửng sốt nhớ lại th́ mới hay Phật muốn dạy ḿnh bài học đầu tiên: đói th́ ăn, khát th́ uống. Tới giờ ăn th́ phải lo ăn. Ai nói không cần ăn là người không biết sống, hoặc giả dối. Gần hai ngàn năm sau, Trần Nhân Tông, ông vua nhà Trần ở nước ta, vị thiền sư sáng lập phái Trúc Lâm Yên Tử cũng nói trong bài Cư Trần Lạc Đạo: Cơ tắc xan hề khốn tắc miên (Đói th́ ăn, mệt th́ ngủ.) Phật tới giờ ăn mà c̣n phải lo mặc áo, xách b́nh bát đi khất thực, huống là ta! Điều đáng để ư ở đây, một bậc Thế Tôn như Đức Phật, chỉ cần nói một tiếng, không thiếu món ngon vật lạ cúng dường! Thị giả hẳn đă lo bữa cơm tươm tất cho Phật đâu đó rồi, chờ Phật thuyết giảng xong th́ vào ăn. Nhưng không. Phật đă tự đi kiếm ăn lấy một ḿnh. Không nhờ vả đến ai. Không ăn thức ăn dọn sẵn ngon lành, mà tự ḿnh làm đúng những điều ḿnh đă dạy. Cho nên không giật ḿnh, sửng sốt sao được! Nhiều vị “chức sắc” có mặt hẳn … hết hồn nh́n lại ḿnh, nào đệ tử cung phụng, nào bày biện các món ăn tuy là chay mà cũng “sơn hào hải vị” không kém! Ngày nay ta c̣n thấy có nhiều thức ăn chay giả giống h́nh con tôm, con cá, đùi gà… thật là đáng ngại! Giật ḿnh, sửng sốt c̣n bởi v́ Phật, địa vị cao nhất, bậc Thế Tôn kia, có hằng chục “chức danh” lừng lẫy mà vẫn giản dị làm sao, vẫn đi chân trần từng bước thanh thoát, vẫn bưng b́nh bát đi khất thực giữa nắng trưa để có cái ăn, có ǵ ăn nấy. Phật đi khoan thai, tự nhiên, mỗi bước đều chánh niệm, không “dính mắc” ǵ với chung quanh mọi người đang x́ xầm hay bàn tán về ḿnh, kẻ khen người chê ḿnh. Ngài chỉ thở vào thở ra trên từng bước đi, ung dung, nhẹ nhàng, sảng khoái. Phật cũng không chọn các nhà giàu để đến khất thực hoặc chọn nhà nghèo dễ chịu hơn, hoặc những nhà quen biết cho chắc ăn, Phật cứ ung dung lần lượt đi từng nhà, từng nhà, bởi v́ đâu có cần phải phân biệt, đâu có cnầ giúp riêng người giàu hay người nghèo. Ai cũng có vấn đề, ai cũng “khổ” như nhau thôi. Người nghèo khổ nghèo, người giàu khổ giàu! Có điều sau một vài tiếng đồng hồ đi bộ để khất thực như vậy th́ món ăn nào cũng trở thành “cao lương mỹ vị,” nếu được ăn trong chánh niệm, được nhai kỹ từng chút một th́ thức ăn nào cũng ngon, cũng dễ tiêu hoá. H́nh như cái b́nh bát cũng vừa lớn đủ đựng thức ăn cho một người thôi, để không quá dư, không thưừ mứa. Ngày nay ít thấy cảnh khất thực, nhất là ở các đô thị, thành phố, thế nhưng khi ta có dịp thấy một người mặc áo ca sa, mang b́nh bát, từng bước ung dung, chánh niệm, đi khất thực từng nhà, từng nhà, ta không khỏi khâm phục vị Thầy từ ngàn xưa, và tự dưng trong ḷng thấy cảm động. Ngày nay dù không c̣n phải đi khất thực từng bữa nữa, nhưng việc đi bộ hằng ngày vài tiếng đồng hồ cũng luôn rất cần thiết cho sức khoẻ; thức ăn đơn giản, nhiều rau, nhiều đậu, ít béo, ít đường, ít mặn, không quá dư cũng đă rất tốt cho sức khoẻ. Đặc biệt là ăn trong trạng thái ung dung, thư giản, một không khí an lành, với niềm vui có được bữa ăn vừa đủ, không cầu kỳ, không thừa mứa, th́ bữa ăn nào cũng trở nên ngon, lành mạnh, khoẻ khoắn. Ăn xong, Phật thu dọn y bát đâu đó gọn gàng, rửa chân sạch sẽ rồi mới vào ngồi tĩnh toạ. Điều đáng để ư ở đây là không phải ăn xong th́ đi… ngủ hoặc bắt đầu tranh luận căng thẳng mà là ngồi tĩnh toạ, vào thiền. Có lẽ đó là lúc tốt nhất để nghe cơ thể ḿnh hoạt động, để thấy các thức ăn được bộ máy tiêu hoá, hấp thu, chuyển hoá thành năng lượng ra sao trong từng tế bào. Bài học đă truyền trao. Nếu chịu khó quan sát kỹ tí nữa, lúc Phật bưng b́nh bát đi khất thực từng nhà, có lẽ ta c̣n phát hiện ra nhiều điều hay, thú vị khác. Chẳng hạn cái người đi khất thực kia không phải là người đi xin mà là người đi cho. Ta không thể phân biệt ai là người xin người cho ở đây. Khi người đi khất thực đứng trước cửa nhà nào th́ gia chủ mừng húm, cảm thấy như ḿnh có một hạnh phúc lớn, không phải chỉ v́ người đi xin kia là đức Phật mà chỉ v́ cái hành vi đi xin kia thực ra mang một ư nghĩa khác, ư nghĩa cảnh tỉnh, như một lời nhắn nhủ, nhắc nhở. Gia chủ sẽ có dịp nh́n lại chính ḿnh, nghe ngóng một tiếng nói nào đó ở trong sâu thẳm tâm hồn ḿnh. Có thể rồi sẽ chóng quên, nhưng hôm nào đó lời nhắc nhở sẽ lại vọng lại. Với người quyền quư cao sang, có thể giật ḿnh một chút thấy cái người đi chân đất, để đầu trần, bưng b́nh bát đứng xin kia là người v́ sao đă từ bỏ ngôi vị thái tử, đă từ bỏ gấm vóc lụa là, cung phi mỹ nữ. Cũng có thể sẽ có những người xua đuổi, sỉ vả, để rồi cũng nhận được một ánh mắt biết ơn, một nụ cười tŕu mến và những bước đi nhẹ nhàng của người khất thực kia. Để rồi đêm về, người đă xua đuổi sỉ vả nọ nhớ lại, ngạc nhiên nghe một thứ tiếng nói khác trong ḷng ḿnh. Có những người nghèo không có cái ăn, không có cái ǵ để cho th́ lúc đó cái ánh mắt, cái nụ cười sẽ chia sẻ cùng nhau. Sự tôn trọng, không phân biệt, đă nói lên nhiều điều quá đỗi. Thực ra nếu quan sát kỹ chút nữa, có lẽ từ lúc Phật đứng lên mặc áo, cầm lấy b́nh bát… mỗi cử chỉ đều đă toát lên một cái ǵ đó khác với ta. Nếu có ai cắc cớ hỏi chuyện mặc áo, cầm b́nh bát của Phật đâu thấy khác ǵ mọi người, th́ chắc Ngài sẽ cười nhẹ nhàng nói: có chứ, có chứ. Bởi Phật khoác áo, cầm b́nh trong chánh niệm c̣n ta th́ hấp tấp, hổn hển chụp lấy áo, chụp lấy b́nh bát, tất tả vội vàng…

Diễn tiến của một buổi giảng huấn bằng phương pháp demonstration đó th́ mỗi cử chỉ, hành động đều phải được theo dơi, quan sát rất kỹ để có thể thực hành theo. Suốt bài giảng đó, ta đă học được nhiều điều hơn ta tưởng: bố thí mà không phải bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục mà không phải tŕ giới, nhẫn nhục, rồi tiết độ, tri túc, tinh cần, chánh niệm… và lúc nào cũng ở trong một trạng thái ung dung, an lạc, thảnh thơi, đầy trí tuệ. Cho nên ta sẽ không c̣n ngạc nhiên khi nghe Tu Bồ Đề cất tiếng ca ngợi: “Hy hữu Thế Tôn! Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phó chúc chư Bồ Tát.”

 

(Trích từ tập sách Gươm Báu Trao Tay của BS Đỗ Hồng Ngọc, NXB Phương Đông)

Xin cảm ơn tác giả đă gởi tặng tập sách và cho phép Thư Viện Diệu Không phổ biến.