trở về trang Văn

 

trở về trang chủ

VĂN

Tác giả khác:

TN Chân Giải Nghiêm
Đức Phật và Cây Cỏ


Kahlil Gibran
Người Điên: Ngụ ngôn và thơ của hắn (Việt dịch: Giải Nghiêm)
01. Tôi đă trở thành người điên như thế nào
02. Thượng đế
03.Bạn của tôi ơi
04.
Tên bù nh́n
05.
Những kẻ mộng du
06.
Con chó khôn ngoan
07.
Hai ẩn sĩ
08. Cho và nhận
09.
Bảy cái tôi
10.
Chiến tranh
11.
Con cáo
12.
Ông vua khôn ngoan
13.
Tham vọng
14. Thú vui mới
15.
Ngôn ngữ khác
16.
Quả lựu
17. Hai cái lồng
18. Ba con kiến
19. Người đào huyệt
20. Trên những bậc thêm của ngôi đền
21. Thành phố nhuần ân phước

22. Thiện thần và ác thần
23. Thất bại
24. Đêm và người điên
25. Những gương mặt
26. Biển cả lớn hơn
27. Bị đóng đinh
28. Nhà thiên văn
29. Khao khát lớn
30. Lời ngọn cỏ
31. Con mắt
32. Hai nhà thông thái
33. Khi nỗi Buồn của tôi ra đời
34. Và khi niềm Vui của tôi ra đời
35. "Thế giới toàn hảo"


Kahlil Gibran

Người điên

Ngụ ngôn và thơ của hắn

(Nguyên tác: The Madman: His parables and poems)

Việt dịch: Giải Nghiêm

Kahlil Gibran

(1883-1931)

 

Kahlil Gibran sinh năm 1883 tại ngôi làng cổ Bsharri, thuộc nước Syria thời ấy bị sát nhập vào Vương Quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ), và hiện nay thuộc về miền Bắc Libanon. Ông là nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ, điêu khắc gia, triết gia và nhà thần học. Tên thật của ông là Gibran Khalil Gibran (tên của cha ông la Khalil Gibran), nhưng khi theo mẹ sang định cư ở Mỹ năm 12 tuổi, ông được giáo viên tiếng Anh đề nghị đổi là Kahlil Gibran cho dễ đọc, tuy nhiên khi xuất bản sách bằng tiếng Ả Rập, ông vẫn giữ tên خليل đọc là Khalil. Năm 15 tuổi, Kahlil Gibran trở về Libanon, theo học trường văn chương Ả Rập. Ở đó ông là đồng sáng lập viên của một tạp chí văn học. Năm 19 tuổi ông trở về lại Boston và tiếp tục các hoạt động hội hoạ.

Từ năm 1908 Kahlil Gibran bắt đầu nổi tiếng trong giới văn chương Ả Rập, họ xem ông là thiên tài thời đó. Kể từ năm 1918, hầu hết các tác phẩm của ông đều viết bằng tiếng Anh, nổi tiếng nhất là thi truyện The Prophet (Nhà Tiên Tri) xuất bản lần đầu năm 1923, được dịch ra hơn 20 thứ tiếng trên thế giới. Tác phẩm đầu tiên xuất bản bằng tiếng Anh, gặp không ít khó khăn để được xuất bản là The Madman: His parables and poems (Người điên: ngụ ngôn và thơ của hắn), được nhà xuất bản Alfred Knopf xuất bản lần đầu năm 1918. Kể từ khi tập sách này ra đời, tên tuổi ông được biết đến nhiều và các tác phẩm khác đă ra đời.

Điều nhiều người biết đến là Kahlil Gibran xuất thân từ đạo Gia Tô (Catholic), phái Maronite, và đă được các giáo sĩ dạy cho thánh kinh từ nhỏ. (Mẹ ông là con một giáo sĩ Maronite, v́ tuy được huấn luyện ở La Mă, thuộc giáo hội La Mă, các giáo sĩ Maronite-Catholic được phép lập gia đ́nh.) Tuy nhiên, ít người biết (do sự dè dặt tránh đụng chạm) là Kahil Gibran đă bị nhà thờ rút phép thông công (excommunicated) sau khi xuất bản tập thơ đầu tiên của ḿnh Spirits Rebellious bằng tiếng Ả Rập năm 1908. Ở Beirut, quyển sách bị nhà thờ tổ chức đốt ngoài chợ và Gibran bị trục xuất ra khỏi nước ḿnh do ảnh hưởng của giáo hội lên chính phủ. Cách đối xử này đă để lại dấu ấn nơi văn chương của Gibran. Trong ngụ ngôn Người Điên (The Madman) ta thấy vết thương c̣n khá tươi, không oán ghét nhưng hơi chua chát. Sang đến Nhà Tiên Tri (The Prophet) th́ văn của ông không c̣n chua chát nữa mà ở trong một thế giới bao la phóng khoáng hơn, tuy nhiên nỗi buồn lưu vong - qua h́nh ảnh nhà tiên tri lưu lạc nơi ḥn đảo xa - vẫn lưu lại như một vết sẹo.

Tư tưởng và thi ca của ông đặc biệt ảnh hưởng đến trào lưu thi ca và âm nhạc New Age những năm 1960 khi Gibran đă qua đời. Người Mỹ tự hào và xem ông như một nhà văn Mỹ.

Ông qua đời năm 1931 v́ bệnh ung thư gan, căn bệnh đă lấy đi mạng sống của một người em gái ông năm cô 14 tuổi.

 trang kế